BỒ TÁT NGUYỆN - H.H The Dalai Lama XIV

Created on Monday, 05 September 2016 11:46

BỒ TÁT NGUYỆN - H.H The Dalai Lama XIV

Bồ Đề Tâm ,một bi nguyện đạt thành Phật quả vì sự lợi ích của tha nhân là ngõ vào của con đường Đại Thừa. Khi phát Bồ Đề Tâm; trên lộ trình đang đi có thể bạn không tiến thủ gì hơn tuy vậy bạn đã trở thành một hành giả Đại Thừa. Nhưng ngay cái thời khắc mà Bồ Đề Tâm thối thất thì dù cho có liễu ngộ cao thâm, bạn vẫn bị rơi ra ngoài phạm trù Đại Thừa.

Nếu lấy sự thành tựu giải thoát luân hồi làm thỏa mãn thì vẫn chưa thể gọi là đủ. Dù từ trong quan điểm của chí nguyện mình để bàn thảo thì chính cảnh giới Nhất Thiết Trí thành tựu Phật quả mới đích thật là sự đạt thành vẹn toàn cho sự phúc lợi của chính mình. Sau khi phát nguyện cầu giải thoát và trải qua quá trình tu hành Tam Học; thay vì chỉ quan tâm đến sự thành tựu giải thoát cho chính tự thân thì đối với những người có tuệ giác cao, việc tiên khởi là nên quán tu về Bồ Đề Tâm, đó là nguyện thành Phật độ khắp chúng sanh và hãy tiến vào con đường đại thừa (tức là cỗ xe lớn). Quả thật vô cùng bất công và thất vọng nếu trông thấy người nào đang không ngừng bị dày vò bởi phiền não và thống khổ, nhưng bạn không nỗ lực giúp đỡ để mang lại lợi ích cho họ. Bạn chớ nên hài lòng tự mãn với những công việc để chỉ phụng sự cho quyền lợi cá nhân của mình.Nên nghĩ suy đến những giới hạn rộng lớn hơn và hãy nỗ lực vì quyền lợi của nhiều người. Đó là điểm khác biệt giữa người và động vật;bởi vì ngay cả động vật cũng ước muốn phục vụ chi quyền lợi của chính nó và thân tộc của nó. Đặc tính của con người là:không chỉ mưu cầu phúc lợi cho riêng mình mà còn quan tâm đến sự lợi ích của tha nhân. Đây chính là nét đẹp và là nét đặc thù của nhân tính.

Những người như Tổng thống Hoa Kỳ Lincoln và Đại Thánh Ấn Độ Mahatma Gandhi đã được tôn kính như những bậc vĩ nhân chân chính vì các vị ấy đã không chỉ âu lo cho riêng tự thân mình mà còn phụng sự cho quyền lợi của tha nhân nữa. Họ đã âu lo đến toàn thể xã hội nhân loại, đã vùng vẫy và phấn đấu cho quyền hạn của người nghèo. Lấy ví dụ của ngài Mahatma Gandhi: sau khi dành lại độc lập Ấn Độ, ngài không bao giờ đảm nhận bất cứ chức vụ gì chẳng hạn như vai trò làm Thủ Tướng mà chỉ ở lại làm một công dân tầm thường. Đó là ấn tích của một con người tiết độ. ...

Khi vầng thái dương chiếu rọi, nó soi sáng một cách bình đẳng không phân biệt kỳ thị; nó chiếu sáng khắp mọi nơi trong quốc gia, trong khắp từng xó hốc và khắp mọi góc độ. Chúng ta cũng nên như vậy. Chúng ta là những hành giả Đại Thừa không nên chỉ quan tâm đến lợi ích của riêng mình mà hãy sử dụng sự nhất tâm chuyên chú để phát huy một thái độ can đảm vị ta, gánh vác lên chính vai mình cái trách nhiệm nỗ lực vì muôn vạn hàm linh.

Bồ Đề Tâm , một bi nguyện đạt thành Phật quả vì sự lợi ích của tha nhân là ngõ vào của con đường Đại Thừa. Khi phát Bồ Đề Tâm;trên lộ trình đang đi có thể bạn không tiến thủ gì hơn tuy vậy bạn đã trở thành một hành giả Đại Thừa. Nhưng ngay cái thời khắc mà Bồ Đề Tâm thối thất thì dù cho có liễu ngộ cao thâm,bạn vẫn bị rơi ra ngoài phạm trù Đại Thừa.

Ngài Tịch Thiên nói: Ngay cái giây phút mà bạn phát tâm Bồ Đề dù rằng bạn có đang hiện hữu ở một cảnh giới thấp kém đi nữa, bạn vẫn được gọi là  Bồ Tát, là Phật tử. Do nhờ Bồ Đề Tâm, bạn sẽ có khả năng tịnh hóa mọi xấu ác một cách dễ dàng và vẹn toàn chí nguyện. Bạn sẽ vô nhiễm với mọi trở ngại nguy khốn,bởi vì nếu có được năng lực của tâm Bồ Đề thì bạn sẽ xem tha nhân tựa hồ quan trọng và quí giá hơn chính mạng sống mình.Khi các yêu ma ác độc tri hiểu được điều này,chúng sẽ ngần ngại mỗi khi muốn hãm hại bạn.Và do nhờ tâm nguyện Bồ Đề mà bạn có thể tịnh hóa mọi uế trược và tích tụ công đức một cách rộng lớn thì bạn sẽ gặp nhiều thuận cảnh cần thiết để tinh tiến vững bước trên lộ trình Đại Thừa. Bồ Đề Tâm và Đại Bi Tâm là những mạch nguồn và nền tảng của mọi thiện mỹ cho đời này và cho Niết Bàn. Bạn hãy xem Bồ Đề Tâm như một tính chất chủ yếu của sự tu hành và chớ nên chỉ đặt để tâm nguyện ấy ở một tầng thứ tri giải. Bạn chớ nên lấy làm thỏa mãn nếu sự tu trì tâm nguyện Bồ Đề của bạn chỉ thuần túy bao gồm dò tụng một vài câu kinh vào lúc khai kệ tịnh tọa. Bạn hãy tìm cách xuyên qua sự ứng dụng thể nghiệm để khởi phát tâm nguyện Bồ Đề.

Ngài Tsong-Kha-pa dạy rằng:nếu bạn hy cầu một cách chân thành để được chứng ngộ, thì bất luận thiện hành nào, dù nhỏ nhiệm như hành động bố thí thóc lúa cho chim quạ, đi nữa cũng đều trở thành Bồ Tát Hạnh. Tuy nhiên,nếu thiếu mất động lực này thì dù có mang cả hằng sa thế giới ắp đầy bảo vật trân châu để cúng dường muôn vạn hàm linh thì cũng chẳng thành tựu Bồ Tát Hạnh được. Nếu sự tu tâm Bồ Đề (tâm giác ngộ)của bạn không được thành tựu viên mãn thì dẫu cho có tu hành theo Phật pháp lâu đến thế mấy đi nữa,cũng sẽ là một quá trình rất chậm chạp và vất vả tựa như dùng dao cùn để cắt cỏ thôi. Nhưng,nếu bạn đạt được sự thắng giải cứu cánh và toàn triệt đối với Bồ Đề Tâm thì mọi phương pháp tu hành của bạn đều có năng lực mạnh mẽ dù phải tiêu hao một ít thì giờ để xác lập tâm nguyện ấy thành động cơ chủ yếu của bạn. Nếu bạn không tâm tâm nguyện nguyện để tăng cường,cải tiến, mở rộng,bổ sung lòng từ của mình; và do bởi chúng sanh thì vô lượng vô biên nên sẽ có nguy cơ rất lớn là bạn sẽ đánh mất nhuệ khí và trở nên tiêu trầm.Thay vì hồi báo ân đức, sẽ có rất nhiều chúng sanh nhiễu loạn,tìm cách hãm hại bạn.Vì thế,không nên thỏa mãn với một kinh nghiệm bi mẫn đơn lẻ nào đó, mà phải cố gắng bồi dưỡng cho đến khi nào lòng từ mẫn của bạn thật sự bắt đầu cội rễ. Nếu thật như vậy,bạn sẽ không còn quan hoài đến những vất vả cam go và do đấy mà bạn sẽ tuyệt nhiên không bị khổ sầu vì ngoại duyên khi phục vụ cho quyền lợi của tha nhân.Vì sức mạnh của Đại Bi Tâm mà chư Phật vẫn hằng thường phục vụ cho sự lợi ích của muôn loài. Đức Phật dạy Bồ Tát không cần phải quan tâm đến nhiều phương cách tu trên Bồ Đề đạo; Bồ Tát không cần hành trì nhiều pháp môn khác nhau làm gì.Chỉ cần hành trì một pháp môn thôi thì quả vị Phật sẽ nằm ngày trong lòng bàn tay của bạn.Cái pháp môn này là pháp tu Đại Bi Tâm, có nghĩa là ngưỡng cầu chứng ngộ ngõ hầu giải thoát muôn vạn hàm linh. Để phát khởi tâm ngưỡng cầu chứng ngộ như trên thì có lòng Đại Bi và lòng Từ Ái tức là sự mong cầu cho chúng sanh mọi loài được thoát khổ không thôi vẫn chưa đủ.Thêm vào đó, điều cần thiết đòi hỏi là sự cảm nhận một trách nhiệm cá nhân,hòng gánh vác cho họ được giải thoát khổ đau và có được sự an lạc đích thực (bới khổ thêm vui).

Khi suy nghĩ đến bản chất khổ đau của chúng sanh, ta sẽ phát triển được tâm mong cầu để họ được lìa khổ. Để có thể đào xới,khai phá một trái tim nồng nàn quảng đại, mãnh liệt, ổn định và cả quyết, điều rất quan trọng là trước tiên phải có một thái độ thiện cảm đối với muôn loài, xem họ như báu vật và thân thiết. Đối với chúng sanh,càng sung mãn thiện cảm bao nhiêu thì càng thân gần bấy nhiêu,và càng có thể triển khai lòng từ ái chân thật nhiều hơn nữa. Thông thường, khi để mặc cho những phản ứng tự nhiên của ta rong ruổi vận hành thì ta sẽ khám phá rằng không thể kham nhẫn nổi trước những khổ lụy của thân quyến và bằng hữu ta.Ta thường có khuynh hướng vui thích trước những bất hạnh, những thất bại của kẻ thù và thờ ơ lãnh đạm đối với người không quen biết. Tình cảm của ta biến chuyển tùy theo các đối tượng  kể trên. Càng quí trọng người nào như gần gũi và thân thiết với ta bao nhiêu thì cảm giác bất kham càng lớn khi người đó gặp khổ.

Hãy hình dung ba nhân vật trước mặt để cân bằng những xúc cảm của bạn:một người bạn chí thân;một kẻ thù nghịch và một người trung lập. Sau khi  hình dung ba người kể trên; hãy để cho tâm thức bạn phản ứng một cách tự nhiên. Bạn sẽ khám phá rằng tâm thức mình phản ứng một cách không bình đẳng; rằng mình rất luyến thương người bạn, và xua đuổi từ khước kẻ thù; còn đối với người thứ ba thì bạn mang thái độ hoàn toàn thờ ơ lãnh đạm. Sau đó, hãy thẩm xét lại tại sao mình phản ứng như vậy.Bạn bè có thể là bằng hữu trong hiện tại, nhưng trong quá khứ có thể đã từng là kẻ thù và có thể sẽ là kẻ thù chúng ta trong tương lai. Những ai mà hiện nay ta gọi là kẻ thù có thể trong quá khứ đã từng và trong tương lai sẽ thành người bạn tri kỷ hoặc thân quyến tốt nhất của ta. Vậy tại sao phải có những phân biệt như vậy? Bằng hữu là những người ta mong họ được an lạc hạnh phúc và vui sống. Ta mong họ được an vui và thành công,vì họ là quyến thuộc,bạn bè,và đối đãi tốt đẹp với ta. Nhưng đời vị lai họ có thể trở thành kẻ thù và ngay cả trong hiện đời họ cũng có thể chuyển sang chống báng ta. Cùng thế ấy, khi chống trả với kẻ thù nghịch,ta có khuynh hướng chống trả bằng một thể thức rất ác xấu,từ trong sâu thẳm và tự nhiên,ta mong muốn họ gặp phải bất hạnh,trắc trở và thất bại.Ta phản ứng như vậy vì nghĩ rằng họ đã hãm hại ta.Nhưng trong hiện đời cho dù họ có thật sự ác quấy đi nữa thì cũng vẫn có thể trở thành bạn bè của ta trong tương lai.

Không có gì chắc chắn và nhất định, không có người bạn nào hoàn toàn đáng tin cậy và vĩnh cửu, cũng không có kẻ thù nghịch vĩnh viễn. Hơn nữa,tuy một người trung lập không liên can gì đến ta, và ta cũng rất dửng dưng thờ ơ với họ, nhưng có thể trong đời quá khứ họ đã từng là bạn hay là thù của ta. Nếu huấn luyện nội tâm của bạn theo chiều hướng như thế thì bạn sẽ xem mọi người như nhau để rồi sự phân biệt, kỳ thị to tát như vậy sẽ bắt đầu phai nhạt dần. Bạn nên nới rộng lối hành trì này để bao gồm tất cả mọi người và cuối cùng thì luôn cả muôn vạn hàm linh. Đấy là cách phát triển phương pháp Bình Đẳng Xả[1].Điều này không phải là khuyên nhủ chúng ta không được có bạn hoặc có thù. Những gì chú tâm ở đây là để tiêu trừ những tình tự phản ứng kịch liệt và bất bình đẳng đối với kẻ khác. Bình Đẳng Xả là điều rất quan trọng,chẳng khác nào cần san bằng mặt đất trước khi cầy cấy.Tuy Bình Đẳng Xả tự nó không phải là một sự liễu ngộ thâm sâu nhưng nếu bạn đạt được nền tảng ấy thì mọi tiến bước khác trong việc tu hành sẽ trở nên rất thuận lợi thành công.

Sau khi phát triển được tâm xả,lời răn dạy thứ nhất của lý nhân quả để kiến tạo nguyện vọng được khai ngộ là hãy thừa nhận rằng tất cả chúng sanh đều đã từng là mẹ ta trong tiền kiếp. Điều này là do bởi không có điềm khởi đầu cho vòng tuần hoàn luân hồi;do bởi sinh mạng trong vòng tái sanh chuyển thế là vô thủy; do bởi ngay cả sinh mạng của chúng ta cũng vô thủy.Sanh và tử tương tục không có gián đoạn.Hễ khi nào có xác thân là chúng ta cần phải có một bà mẹ.Bởi vì luân hồi không có khởi điểm nên ta không thể chỉ vào bất cứ chúng sanh nào và nói: “Người này chưa từng là mẹ tôi trong quá khứ.” Chẳng những họ đã từng là mẹ ta trong tiền kiếp, mà họ còn sẽ là mẹ ta trong đời vị lai nữa.Nếu bạn có thể vững tin vào sự thật này thì sẽ rất dễ hồi tưởng và nghĩ nhớ đến trọng ân của họ, để rồi sau đó có thể khởi phát một ước muốn báo đền ân đức. Tuy thường được khuyến nhủ nên xem mọi chúng sanh như mẹ mình nhưng bạn hãy áp dụng pháp quán tưởng này căn cứ theo kinh nghiệm của chính bản thân mình. Chẳng hạn như có một số người cảm thấy gần gũi với cha mình hơn. Người nào mà bạn cảm thấy thân gần và kính ngưỡng như có từ tâm nhất cần được xem đó như là đối tượng để làm mẫu chuẩn.Không có bất cứ một chúng sanh nào đã chưa từng là mẹ, là cha hoặc là quyến thuộc của ta trong quá khứ, Sự thể mà ta không nhớ hay không nhận diện được họ không đồng nghĩa là họ chưa từng làm mẹ chúng ta. Ví dụ như, trong hiện kiếp có những trường hợp mà cha mẹ và con cái bị chia cách từ khi đứa bé còn rất trẻ; những đứa con này khi lớn lên không cách gì nhận nhớ được song thân của chúng.

Đạo lý kế tiếp là tư duy đến ân đức của tất cả mọi chúng sanh.Sau khi thừa nhận rằng tất cả mọi chúng sanh khác đều như mẹ mình, hồi tưởng ân đức của bà ta,hãy lấy người mẹ ruột của chính mình làm chuẩn dụ;cách quán tu này theo kinh dạy là thù thắng nhất. Tưởng tượng mẹ bạn ở ngay trước mặt, và nghĩ rằng bà không những chỉ là mẹ bạn trong hiện đời mà còn là mẹ của bạn trong vô số kiếp quá khứ nữa. Sau đó, hãy suy nghĩ là bà đã đối đãi với bạn nhân từ như thế nào, săn sóc bảo vệ bạn như thế nào để bạn tránh khỏi hiểm nguy; và hợp tác giúp đỡ bạn ra làm sao? Đời này từ lúc bắt đầu mang thai bạn ra sao và đương trong thời kỳ thai nghén bà đã chăm lo bạn nhiều đến thế nào?Bà trông nom bạn trọn vẹn chẳng chút do dự.Vì sự an vui của bạn, bà chẳng quản khước từ mọi sở hữu và sẵn lòng dùng mọi thủ đoạn và kế sách phản luân lý để đạt thành những gì bạn cần bất chấp mọi nguy khốn xảy đến cho bà. Tình thương và tâm ý đối với con trẻ nhiều đến nỗi thà tự mình gánh chịu bệnh hoạn còn hơn để con mình đau yếu.Bạn nên nhất tâm trực chỉ quán tu về ân thâm đức trọng của bà. Trải qua cách tư duy như thế,khi bạn đối với ân đức vĩ đại của mẹ mà khởi phát niệm cảm sâu dày trước thâm ân nghĩa nặng của bà thì bạn cũng nên áp dụng phương cách này kể cả với những người đã từng đối đãi tốt đẹp với bạn như là bằng hữu và quyến thuộc. Cuối cùng có thể triển khai để bao gồm luôn cả những người trung lập. Nếu đối với những người trung lập mà bạn có thể hưng khởi niệm cảm như vậy, thì hãy chuyển luôn đến cả chính những người thù nghịch với mình. Dần dần thì tổng nạp luôn muôn vạn chúng sanh vào trong phạm trù của sự cảm niệm ân đức của bạn.

Kế đến là pháp quán tưởng để hồi báo ân đức[2] cho họ.Bạn nên hiểu rằng chỉ vì tái sanh chuyển thế không ngừng nghỉ,nên chúng ta không có khả năng nhận diện được tất cả chúng sanh đều đã từng là hiền mẫu,là song thân,là quyến thuộc của ta. Giờ đây,họ không nơi che chở,không nơi nương tựa. Nếu chính mắt trông thấy họ đang bị đau khổ nhưng không ai trợ giúp, mà ta vẫn chỉ mưu cầu quyền lợi và giải thoát cá nhân thì không những ta đang hành xử rất bất công mà ta còn cực kỳ vô ân bội nghĩa.Bạn nên phát khởi tâm tình phụng hiến sâu đậm,tuyệt nhiên không lìa bỏ họ, trái lại, còn báo đền ân đức cho họ nữa. Ngay cả trên danh nghĩa thế tục,nếu người nào không báo đền ân đức mà còn hành xử chống trái lại người khác, cũng bị xem như con người tồi tệ và vong ân. Huống chi một Đại Thừa hành giả làm sao có thể tuyệt nhiên ngoảnh mặt đối với sự phúc lợi và chẳng hề nghĩ suy đến việc hồi đáp ân đức của mọi loài hữu tình chúng sanh khác được?

Hãy hình dung đến mẹ bạn,một người mẹ đang bị tâm thần bất ổn, đôi mắt mù lòa không người hướng dẫn, đơn độc tiến theo hướng dốc. Bà réo gọi đứa con ruột kề cận mà bà đặt trọn niềm tin như nơi cậy nhờ duy nhất. Nếu chính đứa con đó không giúp đỡ bà thì ai sẽ là người giúp đở bà đây? Chúng ta nên tư duy đến quan điểm này: từ vô thủy đến nay, tâm tình chúng sanh chưa từng ổn định vì họ đã từng trót làm nô lệ cho phiền não, họ đã đánh mất tuệ nhãn để nhìn ra con đường dẫn đến Niết Bàn và khai ngộ; và họ cũng thiếu cả sự hướng dẫn cần thiết của một vị đạo sư tinh thần. Dần dần, họ chìm đắm trong những hành vi tiêu cực để cuối cùng đưa dẫn đến sa đọa. Nếu những bà mẹ này không thể tìm được sự đỡ đần từ các con, thì còn phó thác hy vọng vào ai nữa đây? Thể hội được trách nhiệm, bạn hãy nên đáp đền nghĩa trọng tình thâm của mẹ bạn.

Điều thứ tư là quán tu Từ Tâm[3]. Định nghĩa của Phật giáo đối với Từ Tâm là nguyện tất cả mọi hữu tình chúng sanh đều có thể hưởng thụ sự an lạc và vĩnh viễn không lìa xa an lạc. Kinh sách dạy, chỉ một sát na quán tu Từ Tâm, còn thắng xa công đức tích lũy từ vô số sự cúng dường cho vô lượng Chư Phật. Chính bởi pháp tu Từ Tâm mà đức Phật đã đánh bại ma vương trong nỗ lực kềm giữ ngăn chặn Ngài đạt đến cứu cánh giác ngộ.Pháp quán Từ Tâm là một sự bảo hộ vô thượng. Sự phối hợp chân chính của pháp quán Từ Tâm là, tiên khởi nên bồi dưỡng Từ Tâm đối với chính những bằng hữu của bạn, sau đó chuyển sự chú tâm đến các người trung lập, để rồi sau rốt đến luôn cả những người thù nghịch. Dần dà bao gồm luôn tất cả các chúng sanh khác mà bạn gặp gỡ.

Thứ đến là pháp quán Đại Bi Tâm[4].Có hai loại Đại Bi Tâm, một là chỉ nguyện cho tất cả chúng sanh được lìa đau khổ và loại Đại Bi Tâm kia thù thắng hơn: “Tôi xin cưu mang trách nhiệm giúp chúng sanh thoát khổ.” Trước tiên, bạn hãy quán tưởng đến chính song thân, bằng hữu và quyến thuộc của mình, sau đó đem sức chuyên tâm chú ý đến những người trung lập và sau rốt hướng đến cả những người thù nghịch để rồi cuối cùng mọi chúng sanh mà bạn gặp gỡ sẽ trở thành một phần của pháp quán tưởng của bạn. Việc làm này mang một ý nghĩa vô cùng trọng đại bởi vì khi bạn có thể chuyển rộng pháp quán của mình hướng về muôn vạn hàm linh thì Đại Bi Tâm và Từ Tâm của bạn sẽ trở nên nhuần thắm đến độ ngay cái giây phút mà bạn chứng kiến khổ đau thì Đại Bi Tâm sẽ tự khắc bộc phát. Trái lại, nếu bạn chỉ cố công tu quán Đại Bi Tâm và Từ Tâm đối với tất cả chúng sanh; nghĩ đến “Tất Cả Chúng Sanh” mà không trước hết phân chia họ một cách riêng rẽ; thì cái ý niệm “Tất Cả Chúng Sanh” sẽ cực kỳ mơ hồ và Bi Tâm của bạn cũng sẽ không thật sự vững mạnh kiên định. Khi vừa hội ngộ một vài cá nhân nào đó, bạn sẽ bắt đầu hoài nghi rằng là phải chăng mình đang chân thành mong muốn họ được an vui hạnh phúc. Mặt khác,nếu tuần tự bồi dưỡng Bi Tâm; bằng cách trước hết lựa chọn ra từng hạng người riêng rẽ và với một nỗ lực đặc biệt của sự bồi dưỡng Từ Tâm và Bi Tâm chuyên chú đến kẻ thù của bạn chính là tiêu đề khó khăn nhất; nhiên hậu tấm lòng từ ái và bi mẫn đối với tha nhân sẽ trở nên rất dễ dàng và Đại Bi Tâm của bạn sẽ có khả năng nhẫn chịu bất cứ trạng huống nào mà bạn có thể gặp phải.

Trong khi thực thụ quán tưởng, bạn hãy tư duy đến những cách thức trôi lăn trong luân hồi và tất cả những hình thức dày vò khổ đau của mọi chúng sanh cũng như của chính bản thân mình. Để được thành công trong việc phát triển Từ và Bi Tâm, sự thấu hiểu và tri nhận các việc sai trái và khuyết điểm của luân hồi là điều rất trọng yếu. Nếu bạn có khả năng làm được điều ấy,bằng chính những quán sát của mình thì xuyên qua sự thể nghiệm; bạn có thể nới rộng sự thông cảm của mình đến tất cả các chúng sanh khác. Trái lại, nếu chưa tự phát khởi được tâm cầu Xả Ly và ý hướng gờm tởm đối với toàn bộ các kinh nghiệm trong vòng luân hồi này thì bạn không cách gì bồi dưỡng được Bi Tâm cả. Tâm ý Xả Ly la điều không thể miễn trừ được trong công việc bồi dưỡng Bi Tâm. Bi. Tâm và Xả Ly chỉ khác nhau ở đối tượng: Xả Ly thì chuyên nhắm đến chính tự thân của bạn, đó là ước nguyện “chỉ có mình” được giải thoát. Bi Tâm thì trực nhắm đến các loài chúng sanh khác, đó là ước nguyện “muôn loài” được giải thoát.

Quả thật rất quan trọng để điều nghiên và thông hiểu được nhiều hình thức khổ đau. Nhờ gặt hái được một kiến thức rộng lớn bằng cách đọc tụng và nghiền ngẫm kinh điển;bạn nên suy gẫm về các sai trái và khiếm khuyết của vòng luân hồi sinh tử cùng thể thức mà các loài chúng sanh đã trôi lăn trong chuỗi xích chuyển phản ứng này .Ví dụ như, trong các phòng thí nghiệm khoa học, các bộ phận của heo đã bị dày xéo bởi đủ loại máy móc dụng cụ. Để tìm hiểu cách thức hoạt động của một bộ óc, các khoa học gia đã dùng động vật để thí nghiệm. Quả thật là một chuyện kỳ quái bởi vì mục tiêu chánh yếu của họ là giúp kéo dài đời sống của nhân loại. Đây là một mục đích cao thượng trong một khía cạnh nhưng cũng đồng thời rất khó biện giải được. Dẫu rằng họ có thể dùng thuốc mê để trấn định; nhưng các khoa học gia đã thực hiện các cuộc thí nghiệm kể trên bất kể lòng từ bi và trắc ẩn đối với thú vật. Tại Tây phương,có những đoàn thể chống đối những cách đối xử với thú vật như thế không phải vì tinh thần tôn giáo mà do vì thái độ bi thương đối với các loài cầm thú. Tôi đặc biệt tán đồng nỗ lực này.

Lúc khở đầu có thể hoàn toàn khó khăn để phát khởi bất luận kinh nghiệm bi thương nào đối với tất cả chúng sanh; nhưng một khi đã bắt đầu sanh khởi được rồi thì nó sẽ trở nên kiên định, chân thật và không thể lay chuyển được bởi vì nó đã được đặt để trên một nền tảng tri thức và lý tính vững chắc. Nếu bạn có được kinh nghiệm Bi Tâm nào rồi, điều hết sức trọng yếu là hãy nỗ lực quân bình hóa bằng cách củng cố nó với những lý giải và sự hiểu biết rộng lớn của bạn. Chỉ thuần túy dựa dẫm trên một vài hình thái trực giác đơn thuần nào đó không thôi thì quả thật khó tin cậy. Bởi vì sẽ có nguy cơ là các loài kinh nghiệm ấy sẽ tan biến với không một dấu vết nào lưu lại. Điều này đúng không phải chỉ đối với pháp quán Bi Tâm và Từ Tâm mà còn đúng đối với tất cả các pháp tu khác nữa.

Do nhờ vào phương pháp thiền quán và pháp tu trầm mặc tư duy một cách liên lỉ, mà niệm bi cảm của bạn đối với muôn vạn hàm linh sẽ trở nên nồng nàn mãnh liệt, như tình thương yêu của một hiền mẫu đối với đứa con độc nhất khi chứng kiến nó quằn quại vì bịnh hoạn. Sự khổ sầu của con trẻ sẽ tạo nên âu lo và đau đớn cho bà, để rồi ngày cũng như đêm, bà sẽ đương nhiên nguyện ước cho cậu ta hoặc cô ta chóng được khỏe mạnh. Nếu thái độ của bạn đối với các chúng sanh khác cũng giống như thế, thì bất luận là họ có liên quan đến bạn hay không; bạn đều có thể khởi phát một tâm từ bi bình đẳng mãnh liệt,không chút thiên vị ngay cái thời khắc mà bạn chứng kiến được bất cứ khổ đau nào của họ. Và đó là dấu hiệu đã đạt đến, đã phát triển được Tâm Đại Bi. Điều này áp dụng cả luôn cho Từ Tâm. Từ Tâm và Đại Bi Tâm như thế, sẽ tự nhiên đưa dẫn đến, không cần bất cứ cố gắng nào, một thái độ thù thắng hơn nhằm gánh vác lên chính đôi vai của mình trách nhiệm mưu cầu phúc lợi cho quần sanh, để rồi dần dà sẽ đưa đến cứu cánh liễu ngộ của ý nguyện chứng đắc.

Trong khi tu quán hồi báo ân đức, bạn đã tư duy đến đại ân đức sâu dầy của một “bà mẹ chúng sanh” và tư duy đến một sự cần thiết là phải tạo niềm an vui hạnh phúc cho muôn loài. Ở đây, sự quan ngại căn để, đó là vấn đề bồi dưỡng một niệm cảm thâm sâu về trách vụ mưu cầu phúc lợi, cùng gánh vác nhiệm vụ cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sanh. Xuyên qua cuộc sống và các sinh hoạt bình nhật, khi cơ duyên đưa đến,bạn hãy tức khắc nắm bắt cơ hội để huấn luyện pháp quán tu này. Chỉ có lúc đó bạn mới có thể khởi sự hy vọng thăng tiến liễu ngộ. Vị luận sư Ấn Độ Chandragomin (thế kỷ thứ 6 C.E) đã nói: “Kỳ vọng để thay đổi chất vị của một trái rất chua bằng cách pha thêm một hoặc hai giọt đường, đó là ngu xuẩn.” Cùng thế ấy, ta không thể mong cầu hoán chuyển ngay tức khắc hương vị tâm linh đã bị ô nhiễm bởi chất chua phiền não thành hảo vị ngọt ngào Bồ Đề Tâm và Đại Bi Tâm chỉ với một hay hai lần quán tu. Nhẫn chịu tinh tấn và miên mật liên lỉ chính là điều tối ư trọng yếu.

Giai đoạn cuối cùng là phát Bồ Đề Tâm chân chánh, đó là một tâm nguyện được khai ngộ vì mục đích lợi tha. Vì thế bạn không nên hài lòng thỏa mãn chỉ vì đã tri hiểu được tầm mức quan trọng của sự khai ngộ nhằm phụng sự chúng sanh này. Không thể nào đạt đến mục tiêu cứu cánh được nếu không đạt được sự thành tựu cảnh giới Nhất Thiết Chủng Trí của quả vị Phật; mà do từ nơi đó bạn có thể mang sự lợi ích tuyệt đối đến cho muôn loài. Đối với cảnh giới khai ngộ, bạn nên phát khởi một niềm tin sâu dầy thiết tha vô tận từ nơi đáy lòng,và chính điều đó sẽ dẫn đưa đến một ước nguyện khao khát được chứng đắc. Thông thường mà nói; có rất nhiều điều kiện nhân duyên để vun xới Bồ Đề Tâm nhưng trọng yếu nhất trong tất cả các thứ ấy vẫn là Đại Bi Tâm.

Ta nên tri hiểu rằng mục đích để được sinh ra trong thế giới này là nhằm giúp ích quần sanh. Nếu không thể làm được điều ấy thì ít nhất ta cũng không nên hãm hại các chúng sanh khác. Ngay cả những người từng phản đối tôn giáo,vẫn tán dương thái độ vị tha từ ái. Dù trên mặt tư tưởng, người Trung Quốc hiện nay thường bài xích tôn giáo nhưng họ cũng bàn thảo đến ước muốn xây dựng phúc lạc cho đám đông quần chúng. Nếu những người này thực sự có thái độ vị tha từ ái thì họ có thể chu toàn ước nguyện của một chủ nghĩa xã hội hoàn thiện hoàn mỹ. Ngược lại, nếu cứ tiếp tục sử dụng những chính sách bạo động để củng cố tập quyền chuyên chế thì nguyện vọng của họ không sao thực hiện được. Mỗi quốc gia đều có những thể chế chính trị khác nhau, nhưng phần lớn mọi xã hội đều có một nhân tố cơ bản là thái độ lợi tha-đó là ước nguyện nỗ lực vì người,vì sự phúc lạc của nhân dân đại đồng. Thái độ lợi tha là gốc rễ của mọi an vui hạnh phúc ngày chính trong cộng đồng nhân loại. Mọi tôn giáo chánh yếu trên hoàn cầu đều khích lệ bồi dưỡng tâm thái lợi tha mặc dù hệ thống triết học có khác nhau. Một cách ngắn gọn,nếu bồi dưỡng được thái độ lợi tha, nó không chỉ tạo được một môi trường bình yên chung quanh bạn nữa. Đó là một trong những kết quả thực tiễn mà bạn có thể thấy được.Mục tiêu cứu cánh khi bồi dưỡng thái độ lợi tha, là thành tựu chứng ngộ ngõ hầu đáp ứng viên mãn và thỏa đáng mọi nguyện vọng của chúng sanh.Vì thế, đối với tính cách trọng yếu của việc bồi dưỡng Bồ Đề Tâm, Đức Phật không chỉ lưu lại như một lời khuyến dạy giản đơn; ngài còn đã đồng thời chỉ bày các loại kỷ xảo và phương pháp mà do nhờ vào đấy chúng ta có thể hưng phát một tâm nguyện lợi tha như trên.

Một khi đã thác sanh trong thế giới này rồi, ngày nào còn làm người thì ngày đó sự sinh tồn của chúng ta còn tùy thuộc vào nhiều chúng sanh khác nữa. Chúng ta không thể đơn độc sinh tồn. Đó là bản tính của loài người. Do đó, chúng ta nên trợ giúp các đồng loại của chúng ta và giúp họ vơi được thân khổ và tâm khổ. Đấy là phương thức đứng đắn để tiếp xử với những người đồng loại của ta. Côn trùng như các loài ong kiến chẳng hề có một thể chế giáo dục gì cả; tuy nhiên trên thực tế, vì phải nương tựa lẫn nhau để sinh tồn nên dẫu có thiện cảm hay Bi Tâm mãnh liệt hay không chúng vẫn giúp đỡ nhau. Khi kiến tìm được mẩu bánh mì nào lớn thì chúng giúp nhau vận chuyển. Loài người cũng cần nương tựa vào đồng loại để sinh tồn nhưng lại không cư xử với nhau như người đồng chủng. Tất cả loài người đều có khuynh hướng tự nhiên ham sướng tránh khổ. Nghĩ đến điều này quả tình tối trọng yếu để  bồi dưỡng một thái độ lợi tha nhằm giúp  đỡ quần sanh.

Chúng ta đã mang được thân người trong kiếp sống này. Làm cho nó đượm đầy ý nghĩa hay không là hoàn toàn tùy thuộc vào chính tâm thái của ta. Nếu lựa chọn một thái độ bất chính nhưng lại phô bày một vẻ mặt ân cần lương thiện thì chúng ta đang lầm lẫn rồi vậy. Nếu cưu mang thái độ lợi tha và cư xử với quần sanh như thể họ xứng đáng được đối đãi như vậy; thì sự an lạc của chính chúng ta sẽ được bảo đảm như một kết quả tất yếu trong việc mưu cầu phúc lạc cho tha nhân.Khi chúng ta hưởng thụ an lạc, nên vui mừng hoan hỷ vì đây là kết quả hành thiện từ đời quá khứ. Đồng thời, nên đem phước báo này hồi hướng cho khắp tất cả chúng sanh trong niềm kỳ vọng là họ cũng được thị hưởng niềm an vui này. Nếu chúng ta thọ khổ, nên tri nhận rằng đây là kết quả ác nghiệp tạo tác của ta từ đời quá khứ, vì thế, nên phát nguyện: xuyên qua các kinh nghiệm khổ đau này ta ước mong sao cho tất cả những khổ đau ách nạn mà các chúng sanh phải nhẫn chịu có thể tiêu trừ được.Thệ nguyện rằng dù có được giác ngộ hay không, bạn vẫn sẽ nỗ lực lưu cầu phước lạc cho mọi loài chúng sanh.Một khi đã thọ nhận được các huấn chỉ về phương pháp khắc phục các thái độ xem tự ngã như trung tâm điểm rồi thì bạn có thể chết không chút hối tiếc. Khi giảng giải phương pháp ngưỡng cầu của tôi để phát khởi nguyện vọng giác ngộ này thì tôi cảm thấy rất may mắn có phước bao được làm như vậy. Miệng lưỡi tôi đã phụng sự cho tiêu đích của nó rồi. Thính chúng và độc giả nên hoan hỷ với đại phước báo được trở nên quen thuộc với những giáo pháp bất khả tư nghị như vậy,mà sự tu hành sẽ cống hiến những ân huệ to lớn cho cả hiện tại lẫn vị lai.

Tu Tâm Bồ Đề là một điều không thể thiếu được đối với những ai ngưỡng cầu thành tựu được quả vị giác ngộ. Tất cả Chư Phật,Bồ Tát quá khứ đều nhờ bồi dưỡng thái độ lợi tha này mà thành đạt sự liễu ngộ cao thâm. Một vài nhà tư tưởng học đã đánh mất tính tương thông hợp lý này theo dòng thời gian.

Chư Phật đã khai thị rằng sinh mạng là vật sở hữu đáng trân quý nhất của ta và hãy xem sinh mạng kẻ khác còn quan trọng và quý giá hơn cả chính sinh mạng của mình. Thông điệp và lời huấn thị này vẫn muôn thuở giữ được sự túc lý của nó. Trong thời buổi cận đại ngày nay, với hiểm hoạ to lớn là thế giới sẽ bị hoàn toàn hủy diệt; chúng ta phát hiện rằng thông điệp của Đức Thế Tôn càng ngày càng hữu lý hơn.

Một pháp tu khác nhằm phát triển lòng hy cầu vị tha đạt được toàn giác là pháp tu Tự Tha Bình Đẳng[5] và Tự Tha Tương Hoán [6].Giai đoạn đầu tiên của pháp tu này là tri nhận những ưu và khuyết điểm của Tự Tha Tương Hoán. Tất cả những phẩm chất ưu việt của vạn hữu vũ trụ đều là hoa trái của sự trân tiết phúc lợi của tha nhân; và tất cả mọi thất bại, hoang mang, khổ nạn đều là sản phẩm và hậu quả của những tâm thái vị kỷ. Tuy nhiên,Tự Tha Tương Hoán có là điều khả thi chăng? Kinh nghiệm chứng thực rằng:ta có thể thay đổi thái độ đối với một vài hạng người nào mà trước kia ta từng cự tuyệt và kinh sợ ; rằng ta có thể thay đổi thái độ một khi ta tiếp cận với họ hơn và thông hiểu họ hơn.

Tự Tha Tương Hoán không có nghĩa là bản thân ta thay đổi thành người khác mà đó là cách thức đối đãi đặt địa vị hoàn cảnh của mình vào hoàn cảnh và tâm trạng của người khác, để có thể cảm thông với họ một cách tự nhiên trong nỗ lực mang lại niềm hạnh phúc an vui cho tha nhân thay vì chính bản thân mình.

Có hai chướng duyên chánh yếu khi khai triển một thái độ như vậy. Thứ nhất là phân biệt ta và tha nhân một cách mãnh liệt; xem ta và tha nhân như hoàn toàn độc lập và riêng rẽ. Kỳ thật,mình và người đều quan hệ với nhau giống như “bên này núi” và “bên kia núi” vậy. Theo nhãn quan của tôi, thì tôi chính là mình còn bạn là kẻ khác. Chúng ta đều có chung một cảm giác thờ ơ lãnh đạm bởi vì ta cảm nhận hạnh phúc và khổ lụy của người không phải là vấn đề có can dự gì đến ta. Thế thì, ta cần phải nhớ nghĩ đến một vài người mà ta xem rất thân thương,như quyến thuộc của ta chẳng hạn. Cho dù thân bằng quyến thuộc của bạn không phải là bạn nhưng mọi khổ vui mà họ gặp đều có tác hưởng đến bạn. Lại nữa,dù trên thực tế,thân thể của ta bao gồm nhiều phần-đầu, tay, chân- nhưng ta vẫn cư xử với chính thân thể ta, một sự tổng hợp của nhiều cơ phận đều rất quí giá.Cùng thế ấy,ta nên thẩm xét về những gì đã liên kết chúng ta lại; một đặc chất cộng hữu mà vạn vạn chúng sanh như chính tự thân chúng ta đang cùng nhau san sẻ; đó là ý nguyện tự nhiên-mong được an lạc và xa lánh sự khổ đau.Chúng ta xưng tôn kẻ nào đã vì phúc lạc của tha nhân mà hy sinh cuộc đời họ là người cao thượng nhưng ta lại cho rằng điên rồ khi hy sinh mười người để cứu lấy một người. Điều này không có gì liên hệ đến tín ngưỡng cả, nó chỉ giản đơn là một giải đáp có tính cách nhân bản thôi. Do vậy, xả bỏ quyền hạn, lợi lộc và ưu tiên của dăm ba người cho sự phúc lạc của nhiều người là hợp cách và công bằng. Đó là những gì Đức Thế Tôn đã tuyên dạy: “Xả bỏ những ưu tiên và đặc quyền của một cá thể cho sự an ninh của chúng sanh đại đồng nhiều bất tận, nhiều tựa hư không, là hợp cách và công bằng.”

Khi nỗ lực thực hành pháp tu Tự Tha Tương Hoán; chúng ta sẽ phải đương đầu với một sức khánh cự kịch liệt xuất phát từ chính khuynh hướng tự nhiên của bản thân và thái độ xem tự ngã như là trung tâm điểm.Khắc phục được chúng là điều tối trọng yếu. “Khổ sướng của người khác không có gì liên hệ đến tôi; và vì thế, tôi chẳng cần làm gì cho ai cả;” loại quan niềm này là một chướng ngại to lớn đang kể. Tuy nhiên,ta nên tư duy rằng: dẫu cho con người của chúng ta trong hiện tại sẽ không giống như con người của chúng ta trong hai mươi năm sau; nhưng quả là điên rồ nếu ta không quan hoài đến cái con người mà ta sẽ trở thành trong tương lai; và cũng quả là điên rồ nếu chỉ chuyên làm những điều sẽ mang đau khổ đến cho mình trong tương lai. Ta cũng nên tư duy rằng: khi đạp phải gai nhọn,chân bị thương; dẫu rằng tay không đau,nhưng một trong hai tay liền lập tức tháo gỡ chiếc gai kia ngay. Chỉ vì tập quán lâu ngày quen thuộc mà ta ôm giữ chấp đặt với tự thân, để rồi cho rằng bất cứ thứ gì liên hệ đến tự thân mình cũng đều như là những việc vô cùng quí giá và hết sức trân trọng. Nhưng xuyên qua một tập thói quen thuộc kiên trì; ta có thể hưng khởi một thái độ trân tiết phước lợi của tha nhân cũng mạnh mẽ không khác trân tiết phước lợi của chính mình.Dẫu ta đã từng nỗ lực từ vô thỉ kiếp đến nay để đạt được an vui, thoát khổ sầu; nhưng thái độ lấy tự ngã làm trung tâm điểm đã khiến xui ta trải qua những đau đớn khôn lường. Nếu ở một thời khắc nào trong quá khứ mà ta có thể thay đổi thái độ này; ta đã từng trân quí sự phúc lợi của người thay vì sự phúc lợi của ta,và còn nỗ lực vì sự an lạc của họ nữa thì giờ đây có lẽ ta đạ thành tựu được cứu cánh Phật quả rồi.

Vì thế, chúng ta nên quyết định: “Bắt đầu từ nay,tôi sẽ phụng hiến chính mình ,bao gồm cả thể xác mình cho sự phúc lợi của tha nhân.Bắt đầu từ nay,tôi sẽ không làm việc chỉ vì niềm an lạc của tự thân, mà hơn thế nữa là vì niềm an lạc của tha nhân. Bắt đầu từ nay, muôn người đều như sư trưởng của tôi, thân xác tôi sẽ tuân phục và nhận lãnh mệnh lệnh của người thay vì của chính mình.” Tư duy về những bất lợi và tổn hại vĩ đại của thái độ vị kỷ; bạn hãy phát khởi một quyết tâm dõng mãnh,nói với chính thái độ trân quí tự ngã của mình rằng: “Sự khống chế nội tâm tôi của bạn chỉ còn là một tiêu đề của quá khứ. Kể từ nay trở đi, tôi sẽ không tuân vâng theo mệnh lệnh của bạn nữa. Các phương thức bất chánh của bạn chỉ gây tạo thương tổn to lớn cho tôi thôi.Kể từ nay trở đi, đừng giả vờ phục vụ cho chính niềm an vui của tôi nữa bởi vì tôi đã tri hiểu được rằng bạn chính là kẻ thù lớn và là cội nguồn của mọi trắc trở và khổ lụy cho tôi.Nếu tôi không từ bỏ bạn để phục vụ tha nhân; bạn lại một lần nữa nhận dìm tôi xuống những khổ đau của chuyển sanh bất hạnh.” Nên hiểu rằng thái độ lấy tự ngã làm trung tâm điểm là cội nguồn của tất cả “khổ” còn quan hoài đến tha nhân là cội nguồn của tất cả “an lạc” và “mỹ đức”.

Nếu bạn gặp mười kẻ hành khất nghèo khổ ngang nhau, rồi phân biệt họ, quyết định người này xứng đáng được giúp đỡ hơn người kia,thì đây là điều sai lầm. Nếu có mười người bệnh tương đương với nhau thì quả không hợp lý nếu bắt đầu phân biệt người này với người kia. Cùng thế ấy, với tất cả chúng sanh,bạn nên phát triển thái độ bình đẳng đối với những ai đang đau khổ hay đối với những ai sắp chịu khổ. Những chúng sanh này đã từng thi ân nhiều vô hạn đối với bạn trong quá khứ. Đứng trên quan điểm tôn giáo mà nói, cho dù kẻ thù nghịch cũng vẫn nhân từ, bởi vì họ khiến bạn có cơ hội tu hạnh nhẫn nhục. Tất cả chúng ta đều có một bản chất như nhau, đều kham chịu chung cùng vận mệnh thì không lý do gì phải phản kháng và bất thiện cảm với nhau. Chư Phật chỉ xem phiền não như khuyết điểm nên trừ khử; các ngài không phân biệt, kỳ thị các chúng sanh đang bị vây phủ bởi phiền não mà cứu độ một vài người và bỏ mặc một vài người khác. Nếu vài chúng sanh thật sự có bản chất xấu ác thì chư Phật sẽ thấy điều này và từ bỏ những loại người như vậy. Nhưng vì các ngài liễu tri được bản chất thực tại giới như là nó đang hiện hữu nên không hành xử theo cách này; vì thế, ta có thể thanh trừ được. Kinh sách đã dạy rằng: nếu chư Phật bị thúc ké bởi hai người, một người thì công kích ngài bằng vũ khí còn người kia thì dùng dầu để thoa dịu ngài đi chăng nữa thì ngài cũng chẳng hề thiên vị người này hơn kẻ kia.

Do vậy, trong ý niệm tột cùng nhất, thù và bạn không còn hiện diện. Điều này không có nghĩa là không có người đôi khi giúp ta và không có kẻ khác thì đôi lần hãm hại ta. Những gì ta lưu tâm đến nơi đây là tìm cách để chế phục các tình cảm nghiêng ngã của ta. Hãy tư duy đến mối liên hệ giữa bạn và thù, ngõ hầu giảm bới mối dây ràng buộc của các phản ứng có tính cách tình cảm. Thế là ta có thể dễ dàng nhận diện được những ưu điểm to tát của sự trân quý tha nhân- đó là cửa ngõ thành tựu mọi phẩm đức cao thượng.Ta sẽ từ đấy,hẳn nhiên nguyện cầu phục  vụ cho tha nhân và sự lãnh đạm mà trước kia ta đã đối xử với họ có thể giờ đây được ứng dụng cho chính sự tư lợi của ta. Niệm cảm luyến chấp mãnh liệt một cách bình thường đối với sự phúc lạc của bản thân ta xưa kia có thể hiện nay được chuyển hướng cho sự phúc lạc của mọi người.

Nếu tư khảo tỉ mỉ, bạn có thể tri hiểu rằng thành tựu được sự chứng ngộ cho bản thân mình cũng còn tùy thuộc vào người khác rất nhiều. Không có sự tu hành tam học Giới, Định, Huệ; ta không cách nào đạt đến Niết Bàn.Tu tập Tâm Học bắt đầu bằng trì giới,ví như phát thệ không sát sanh. Nếu không có các chúng sanh khác hiện diện, làm sao ta có thể kềm hãm tâm sát sanh chứ? Tất cả những phương cách tu hành này đều tùy thuộc vào sự đóng góp của kẻ khác. Tóm lại, ngay từ khởi thủy thai nghén đến nay, chúng ta đã trọn vẹn nương tựa vào ân đức và sự đóng góp của kẻ khác. Người Tây Tạng không thể vui hưởng được món trà Tây Tạng mà không có sự đóng góp của các loài động vật như bò cái. Sữa vốn là quyền hưởng thụ đương nhiên của bò con nhưng ta đã lấy đi và dùng làm bơ. Nếu không có sự đóng góp từ các chúng sanh khác thì chúng ta sẽ không có các vật dụng này. Điều này cũng đúng luôn đối với nơi trú ẩn, đối với thực phẩm và đặc biệt đối với danh vị. Trong xã hội hiện đại, không ai có thể trở nên danh tiếng nếu không hề có những sinh hoạt của các ký giả. Dù cho có hô to hét lớn, một người cũng không thể trở nên nổi danh được bằng thể thức như thế.

Ta phát hiện rằng sự nhất thiết tồn tại của ta là một điều gì nương tựa vào tha nhân. Điều này chẳng những đúng đối với thế tục, mà nó cũng còn đúng đối với Bồ Đề đạo: vạn pháp đều tùy thuộc vào sự đóng góp và ân đức của người khác. Cho nên, nếu nương theo những mối ranh như vậy mà tư duy, thì sự hồi tưởng ân đức của muôn loài sẽ có một kích thước rộng rãi hơn. Tôi thường lưu ý rằng nếu bạn muốn ích kỷ, bạn hãy nên thực hành nó theo phương pháp khôn ngoan. Phương pháp tự tư ích kỷ mê mờ là cách thức ta đã mãi miết làm, chỉ mưu tìm an lạc cho chính tự thân và tiến trình trở nên càng ngày càng bi đát khốn khổ hơn. Phương pháp tự tư ích kỷ thông minh là phục vụ cho sự phúc lợi của quần sanh; bởi vì bạn sẽ được thành Phật ngay chính trong quá trình thực hiện ấy.

Nhằm vĩnh viễn không lìa xa nguyện vọng được thành Phật để mang lợi ích đến cho tha nhân kể cả ở kiếp vị lai, ta cần phải kiên trì với một vài huấn tập nào đó. Một cách cụ thể rõ ràng, ta nên từ bỏ bốn hành vi tiêu cực xấu ác và hành trì bốn Thiện Hành liên quan đến sự huấn tập này. Hành vi xấu ác thứ hất là phỉnh gạt vị đạo sư tinh thần của bạn, đặc biệt là nói dối.Hành vi trái nghịch thứ hai là gây cho một vị tu hành nào đó khởi niệm hối tiếc trong khi vị này nguyên trước kia không hế hối tiếc về các thiện hành quá khứ của vị ấy,chỉ vì ngôn ngữ của bạn. Hành vi xấu ác thứ ba là lăng nhục Bồ Tát, đó là những vị đã từng hưng khởi Bồ Đề Tâm; bằng cách bôi nhọ và nhục mạ các vị ấy. Chúng ta có khuynh hướng dễ bảo rằng ai là Bồ Tát và ai không phải là Bồ Tát. Chúng ta nên tối cẩn tắt để tránh phạm vào điều này. Kinh Đại Bát Nhã[7] giải thích tầm mức nghiêm trọng của sự phẫn nộ. Nếu phát hiện bạn đã lỡ giận dữ đối với một vị Bồ Tát;hãy tức khắc sám hối và dấn bước trong nhiều phương thức để thanh tịnh hóa ác nghiệp của bạn bằng cách cương quyết rằng: điều tối quan trọng là ta sẽ mãi mãi tránh không tái phạm vào điều lỗi lầm nầy nữa. Tảng đá chướng ngại lớn nhất trong việc bồi dưỡng tâm đại bi và nguyện vọng giác ngộ là niệm sân hận tha nhân. Hành vi xấu ác thứ tư là phỉnh gạt kẻ khác một cách vô lương tâm; đặc biệt là che đậy lỗi lầm của bạn và giả vờ như đã đạt được liễu ngộ cao thâm rồi.

Bốn Thiện Hành là bốn việc trái ngược với các điều kể trên. Điều thứ nhất là không bao giờ nói dối với bất cứ chúng sanh nào. Có vài trường hợp ngoại lệ mà có thể bạn phải nói dối, nhằm hộ trì Phật pháp hoặc bảo hộ người khác. Ngoại trừ điều này ra, bạn nên tránh nói dối đối với bất cứ ai. Thiện Hành thứ hai là chánh trực và thứ ba là tán thán và kính ngưỡng Bồ Tát, là những vị đã không ngừng phục vụ quần sanh. Một lần nữa, quả thật rất khó phán đoán ai là Bồ Tát và ai không phải là Bồ Tát; vì thế, an toàn hơn cả là nên hưng phát kính ý mạnh mẽ đối với tất cả chúng sanh; luôn luôn tôn vinh và ngợi khen phẩm cách cao quí của họ. Thiện Hành thứ tư là cổ súy tha nhân hãy nỗ lực nhằm tựu thành Phật quả, một quả vị đại giác viên mãn.

Thuật Ngữ:

[1] Bình Đẳng Xả: equanimity

[2] Pháp quán tưởng để hồi báo ân đức:meditation on repaying the kindness

[3] Quán tu Từ Tâm: meditation on love

[4] Tu quán Đại Bi Tâm: meditation on compassion.

[5] Tự Tha Bình Đẳng: Equalizing self ang others:mình và người đều bình đẳng

[6] Tự Tha Tương Hoán: Exchanging of self and others: đặt mình vào hoàn cảnh tâm trạng người khác để có thể hiểu được sự khổ đau của họ nhằm cưu mang trách nhiệm cứu độ

[7] Kinh Đại Bát Nhã: The perfection of wisdom sutra.

HƯỚNG ĐẾN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT, Nguyên Tác: THE WAY TO FREEDOM 

Tác giả: HIS HOLINESS THE DALAILAMA - Dịch giả: NGUYỄN THÚY PHƯỢNG

 

 


Áo Lam rong phố (Bảo Lễ)

IMAGE
Em ước gì mình làm chim bay, bay khắp quê nhà...

Bộ tranh cuộc đời Đức Thích Ca Mâu Ni

IMAGE
Bộ tranh cuộc đời Đức Phật

NHẠC GĐPT - PART 2

IMAGE
Đường Lam - Anh em ta về - Kết dây thân tình - Đoàn Lam non - Mừng Thầy đến - Nào về đây - Lửa Trại đêm nay - Hát to...

Bài hát sinh hoạt - P1

IMAGE
Càng đông càng vui- Bốn phương họp mặt - Tiếng chim ca -Nhảy lửa-  Một Mẹ trăm con - 15 phút đồng hồ - Đôi tay trên...

bài hát TIẾNG CHIM CA (Vũ Đức Sao Biển )

IMAGE
Nhạc phẩm TIẾNG CHIM CA - Tác giả: Vũ Đức Sao Biển 

Lời phật dạy

"Cạo bỏ râu tóc để trở thành vị Sa môn, lãnh thọ giáo pháp của Phật thì phải xả bỏ của cải thế gian, mong cầu vừa đủ, giữa ngày ăn một bữa, dưới gốc cây ở một đêm, cẩn thận không trở lại lần thứ hai. Ðiều làm cho người ta ngu muội là ái dục"

- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong sách vở hay kinh điển.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó lý luận siêu hình.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

Nghèo nàn bố thí là khó. Giàu sang học đạo là khó.  Bỏ thân mạng quyết chết là khó. Thấy được kinh Phật là khó.Sanh vào thời có Phật là khó. Nhẫn sắc, nhẫn dục là khó. Thấy tốt không cầu là khó.  Bị nhục không tức là khó.  Có thế lực không dựa là khó Gặp việc vô tâm là khó.

- Chớ vội tin điều gì, khi điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.