u học Bậc Lực năm I: Thiền sư Vạn Hạnh

Created on Tuesday, 17 January 2017 09:38

Thiền sư Vạn Hạnh 

Vì muốn chuyển hóa xã hội bạo trị của thời Lê Long Đỉnh thành một xã hội Nhân chủ Đức trị, mở đầu cuộc cách mạng bất bạo động vào năm 1009, Thiền sư Vạn Hạnh đã tham gia chính sự với tư cách cố vấn giúp vua Lê Đại Hành bình nước an dân. Sau đó ngài âm thầm chỉ đạo cho quan Thái sư Chi hậu Đào Cam Mộc(cũng có tên đường tại Quận 1 và Quận 8 Sài Gòn) đưa Lý Công Uẩn vốn là đệ tử của ngài, được giáo dục và đào tạo từ kiến thức Phật giáo lên ngôi vị đế vương, thành lập triều đại nhà Lý. Biến một Quốc gia Đại Việt bị phân hóa, tranh giành quyền lực, suy thoái về mặt đạo đức tâm linh thành một Quốc gia Đức trị, hùng mạnh và hưng thịnh lâu dài.

Thật vậy, theo sách Thiền Uyển Tập Anh, Thiền sư Vạn Hạnh  (  ; 938 – 1025) là vị Tổ sư đời thứ mười hai thuộc dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinītaruci). Sư họ Nguyễn, quê làng Dịch Bảng, lộ Bắc Giang, phủ Thiên Đức, châu Cổ Pháp, nay thuộc thôn Đại Đình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Từ thuở nhỏ Sư đã thông minh, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên cứu nhiều bộ luận Phật giáo. Năm 21 tuổi Sư xuất gia, tu học cùng với Thiền sư Định Tuệ dưới sự chỉ dẫn của Thiền sư Thiền Ông tại chùa Lục Tổ, thuộc làng Đình Bảng thị xã Từ Sơn. Khi Thiền Ông mất, Sư bắt đầu chuyên thực tập Tổng Trì Tam Ma Địa (Thiền Mật song hành), nên sau này hễ ngài nói lời gì đều được thiên hạ cho là phù sấm.

Vua Đinh Tiên Hoàng (丁先皇; 924 - 979)  cùng con trai Đinh Liễn (丁璉; ?-979) bị Đỗ Thích giết hại vào năm 979, triều đình tôn phò Đinh Toàn còn gọi là Đinh phế đế, con của Thái hậu Dương Vân Nga lên ngôi mới 6 tuổi. Quan Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm phụ chính phó vương. Vài tháng sau, tướng Hầu Nhân Bảo nhà Tống đưa hơn 3 vạn quân thủy bộ chia làm hai đường tiến sang xâm lược nước ta trong tình thế rất nguy cấp, vua còn quá nhỏ không thể quyết định đại sự. Lê Hoàn được chư tướng và quần thần phong vương, thái hậu Dương Vân Nga bèn trao áo long cổn cho Lê Hoàn lên ngôi vua, tức Đại Hành hoàng đế để cầm quân ra trận.

Lê Đại Hành (黎大行; 941 – 1005) là người tài, biết cách dùng binh và trọng dụng người hiền, thỉnh mời các danh Tăng thạc đức để làm cố vấn triều chính đối nội lẫn đối ngoại, như Thiền sư Tăng thống Ngô Chân Lưu - Khuông Việt, Quốc sư Đỗ Pháp Thuận từng đóng vai chèo đò đón sứ Tống là Lý Giác qua sông, cũng như phúc đáp văn thư ngoại giao. Thiền sư Vạn Hạnh đã giữ vị trí cố vấn tối cao trong việc thần toán, quyết định quốc sách quan trọng cho vua Lê Đại Hành, được vua hết lòng tôn kính. Chứng tỏ Phật giáo lúc bấy giờ có một tầm ảnh hưởng rất lớn trong xã hội.

Khi quân Tống sang xâm lăng nước ta vào năm 980, vua hỏi ngài  Vạn Hạnh nếu đánh thì thắng hay bại, Thiền sư trả lời là nội trong ba đến bảy ngày thì giặc phải thua chạy. Rồi năm 982 vua Lê Đại Hành sai Từ Mục và Ngô Tử Canh làm sứ giả sang Chiêm Thành tỏ tình giao hảo, nhưng bị vua Chiêm bắt giữ. Lê Đại Hành nổi giận, Thiền Sư đã khuyên vua cấp tốc xuất quânNamchinh thì sẽ đại thắng. Quả nhiên, đối với hai vấn đề trọng đại của quốc gia là đương đầu với đế quốc phương Bắc và dẹp giặc loạn ở phươngNamvào thời ấy đều đúng như lời Thiền sư tiên đoán. Vua Lê Đại Hành băng hà năm Ất Tị (1005), thọ thế 65 tuổi.

Tuy nhiên, theo quan điểm Nho giáo mà Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã viết, vua Lê Đại Hành bị chê trách về đạo vợ chồng, do ông đã có tình ý từ trước với thái hậu Dương Vân Nga, lập bà này làm hoàng hậu, mà bà cũng chính là một trong năm hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng đế. Thứ nữa là việc vua Lê Đại Hành không sớm lập Thái tử kế vị, cho nên sau này dẫn đến việc tranh giành quyền lực giữa các con của ông với các bà hoàng. Bởi vì ông có tất cả 11 người con trai và một người con nuôi đều được phong vương trấn nhậm mỗi nơi, có người trở thành cường hào ác bá, bức hiếp dân lành, tham ô, hủ bại. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp làm cho nhà Tiền Lê nhanh chóng sụp đổ theo nhà Đinh. Lúc bấy giờ Thiền sư Vạn Hạnh chỉ đứng bên ngoài chứng kiến cảnh đau lòng, thương cho vận nước đen tối, không làm sao can thiệp được trước cảnh nồi da xáo thịt. Nhất là hình ảnh Lê Long Đỉnh giết anh ruột là Long Việt tức vua Lê Trung Tông mới lên ngôi được ba ngày. Hai anh em này không phải là con của các bà Hoàng hậu, mà là con của một thứ phi tên Chi hậu Diệu Nữ. Về sau bà được con trai Long Đĩnh làm vua, truy tôn bà thụy hiệu là Hưng Quốc Quảng Thánh Hoàng Thái hậu.

Long Đỉnh soán ngôi, theo sách sử cho rằng với tính hoang dâm, bạo ác, hành xử tệ bạc với tù nhân và không được lòng dân. Thậm chí ông phạm phải sai lầm rất lớn là khi uống rượu say, cho người róc mía trên đầu sư Quách Ngang (Quách Mão) để làm trò cười, khinh thường Phật giáo, một tôn giáo vốn đồng hành cùng dân tộc và hết lòng phụng sự nước nhà. Ông lại còn nuôi nhiều bọn tuồng hề, múa hát diễu cợt để làm loạn lời tâu trung thành của các quan có lòng yêu nước.

Do quả báo đó, ông bị mắc bệnh nặng trong những tháng cuối đời trở thành ngọa triều. Có lẽ để sám hối tội lỗi của mình nên ông cho người sang Trung Quốc thỉnh Đại Tạng Kinh Phật giáo là một bộ sách vĩ đại được rất nhiều thế hệ cao tăng Trung Hoa sưu tầm và dịch thuật suốt gần 1.000 năm qua, mới in thành sách lần đầu tiên gồm 5.000 quyển lần đầu tiên được mang về nước. Ông cũng cho thỉnh Cửu kinh gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu, Kinh Hếu, Luận Ngữ, Mạnh Tử và Chu Lễ; là 9 bộ sách vĩ đại nền tảng của văn hóa Trung Hoa những mong chấn chỉnh lại tình thế, nhưng quá muộn. Trong 4 năm cầm quyền ông cũng đã 5 lần cầm quân đánh dẹp giặc loạn ở các vùng đất thuộc Hưng Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay. Lần sau cùng vào tháng 7 / 1009, đánh giặc ở các châu Hoan Đường và Thạch Hà. Vua Long Đỉnh cai trị được 4 năm, đến ngày Tân Hợi, tháng 10, năm Kỷ Dậu (tức 19 tháng 11 năm 1009) thì băng hà, thọ thế 24 tuổi. Như vậy, Tiền Lê gồm ba triều đại: Lê Đại Hành 980 – 1005, Lê Trung Tông 1005 và Lê Long Đỉnh 1005- 1009, tổng cộng 29 năm.

Sau khi Long Đỉnh mất, con trai là Sạ còn thơ bé, Quan Thái sư Chi hậu Đào Cam Mộc dàn xếp các phe phái trong triều và quần chúng cũng đồng tình ủng hộ cuộc cách mạng trong tinh thần bất bạo động, mà Thiền sư Vạn Hạnh đã âm thầm chủ đạo đưa Lý Công Uẩn lên thay ngôi đổi chủ. Thiền sư đã dốc hết toàn tâm toàn lực, vạch ra một chương mới cho lịch sử nước nhà, như  viết chiếu thư cho vua phủ dụ dân chúng dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Kiến thiết một Kinh đô có tầm cỡ đậm nét Nhân văn, xây dựng một triều đại nhà Lý mang tính Nhân chủ, Đức trị, được vững an trong sáng và lâu bền. Thiền sư Vạn Hạnh đã vận dụng Trí tuệ thực hiện tinh thần Từ bi phụng sự, hoằng pháp  độ sanh, chỉ dùng gậy thiền hộ quốc an dân, chung sức chung lòng giữ gìn bờ cõi mà sau này vua Lý Nhân Tông (李仁宗) là vị hoàng đế thứ 4  trị vì từ 1072-1127  truy tặng:

 

Vạn Hạnh dung tam tế

Chân phù cổ sấm ky (cơ)

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ.

Tạm dịch:

Vạn Hạnh thông ba cõi.

Lời tiên nghiệm sấm thi.

Vang danh làng Cổ Pháp.

Chống gậy giữ kinh kỳ.

 Mặc dù có công lớn với đất nước, nhưng Thiền sư Vạn Hạnh không nhận bổng lộc triều đình, dù là vị thế của một Quốc Sư, ngài không để danh lợi buộc ràng, đắm nhiễm thế duyên trần tục. Khi tuổi đã về chiều, ngài lưu lại bài thi kệ rất hàm súc ý nghĩa, để nói lên ngài là nhân chứng lịch sử trải qua ba triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê hết lòng vì nước vì dân mà không phải lợi dụng niềm tin quốc chủ, đòi hỏi đặc quyền đặc lợi để phụng sự  tín ngưỡng tôn giáo của mình, hoặc đem Tổ quốc hiến dâng cho một đấng thần linh ngoại giới dù đó là đức Phật:

.



“Thân như điện ảnh, hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.

Nhiệm vận thịnh suy vô bố úy.

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô ”.


Tạm dịch:


“Thân như ánh chớp, có rồi không.

Cây cối Xuân tươi, thu úa hồng.

Mặc cuộc thạnh suy không sợ hãi

Thịnh suy như ngọn cỏ sương đong ”.

 

Thiết tưởng bài thi kệ này đã được nhiều nhà phê bình, những học giả, những nhân sĩ trí thức đã tốn khá nhiều giấy mực nhận định và diễn giải, chúng tôi không dám lạm bàn chỉ được xin góp phần lãnh hội đôi chút trong lời khai thị của Thiền sư:

Người ta thường cho rằng đời người là trăm năm dài, nhưng dưới mắt Thiền sư chỉ là một giấc mộng, khi mang được hình hài này trong từng sát na sanh diệt vô thường chẳng khác nào như ánh chớp nháng lên trong hư không rồi phụt tắt; mới thấy đó, liền mất đó; có rồi lại không. Nhìn vạn vật xoay vần theo năm tháng, cây cối trong mùa Xuân đâm chồi nẩy lộc xinh tươi, đến thu sang thì úa rụng héo tàn. Thế sự cũng nổi chìm lên xuống nhấp nhô như bao đợt sóng xô giữa lòng biển khơi cuộn đổ vào bờ. Mỗi cảnh duyên, mỗi thời đại quê hương đất nước cũng vậy, tất cả đều có nghiệp nhân và nghiệp quả của nó. Đó là định luật tất yếu, chẳng khác gì giọt sương đọng trên đầu ngọn cỏ rất mong manh, đâu có gì muôn năm bất diệt!

Hỡi vũ trụ giang sơn!

Hỡi hùng anh, tiền tài, danh vọng!

Hỡi tất cả có thể chuộc lại một đóa hoa không khỏi phải héo tàn!

Đức Phật dạy trong kinh Kim Cương:

“Phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng.” Các pháp xưa nay vốn như thế, lúc thạnh lúc suy, đâu có gì khiến ta phải sợ hãi băn khoăn về cuộc thạnh suy, suy thạnh đó?! Nhưng ai là người sớm tỉnh thức quay về?  Bởi vì :

Sự nghiệp gì rồi cũng bỏ lại sau lưng,

Duy chỉ có lối về trong yên lặng!

Tư tưởng Thiền sư Vạn Hạnh là tư tưởng dấn thân phụng sự cho quê hương đất nước, đưa Đạo vào đời bằng Trí tuệ Minh triết, khai phóng cho dân tộc một hướng đi không nô lệ hận thù, khôn khéo trong ngoại giao, giữ vững biên cương tổ quốc, an định lòng dân, bình trị thiên hạ. Khi đất nước thanh bình ngài quay về chùa sống cuộc đời thanh đạm, ung dung tự tại:

Xuân có trăm hoa thu có trăng.

Hạ về gió mát, tuyết đông giăng.

Vì lòng thanh thản không lo nghĩ.

Ấy buổi êm đềm chốn thế gian.

Chính Khổng Minh Gia Cát Lượng từ xưa cũng từng nói trong bài thơ Vô Đề của ông, xin mọi người chúng ta cùng trải nghiệm:

 

大夢誰先覺
平生我自知。 
草堂春睡足, 
窗外日遲遲。

Đại mộng thùy tiên giác?

Bình sinh ngã tự tri,

Thảo đường Xuân thụy túc.

Song ngoại nhật trì trì.

Tạm dịch:

Mộng lớn Ai đà tỉnh?

Bình sinh ta biết ta.

Lều tranh Xuân, ngon giấc

Ngoài song bóng xế qua!

Vào mùa Thu tháng 8 năm Ất Sửu (1025) Thiền sư Vạn Hạnh an nhiên thị nhập niết bàn. Trụ thế 87 tuổi. Tăng lạp 66. Vua Lý Thái Tổ đích thân về chùa Lục tổ thọ tang cùng triều thần, để tưởng nhớ công ơn của một bậc Thầy đã dày công với dân với nước. Sau   khi làm lễ trà tỳ (hỏa táng), vua cung thỉnh xá lợi của Thiền Sư thờ phụng tại chùa Tiêu (Thiên Tâm Tự) thuộc xã Tương Giang, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội 22 Km về phía Đông Bắc, cách thành phố Bắc Ninh 9 Km về phía Tây Nam. Ngày 15-5 âm lịch hàng năm tại chùa Tiêu đều tổ chức lễ giỗ của ngài. Thiền sư như cánh hạc vàng tung bay vào cõi hư vô bất tận, không để lại bóng hình dấu vết, chỉ còn lưu ngát hương thơm muôn thuở trong lòng dân tộc mãi cho đến ngày nay.

Một bài viết về Thiền sư Vạn Hạnh:

Con người lịch sử của Thiền Sư Vạn Hạnh quá vĩ đại, lại bàng bạc như hư không nên các sử gia không thể nào thấy trọn, thấy hết, không những thế, nhiều sử gia đã không hề thấy. Các sử gia ghi rằng:

“Cuối triều Lê, khi Ngọa Triều chết, Vạn Hạnh cùng với triều thần, đứng đầu là Đào Cam Mộc, mưu lập Lý Công Uẩn lên ngôi”.

“Khi Lý Công Uẩn còn bé, sáng suốt  tinh khôn, phong tư tuấn tú khác thường,  Vạn Hạnh thấy biết ông sẽ làm nên  nghiệp lớn và nói rằng: “Người  nầy không phải là người thường,  lớn lên tất làm vua giỏi một nước”.”

“Vạn Hạnh, thiền sư ở chùa Lục  Tổ, thuở nhỏ ông đã khác thường, thông hiểu ba môn học, nhưng coi công  danh phú quý lạt lẽo, năm 21 tuổi xuất  gia với Thầy Đinh Huệ, theo học thiền  ở Chùa Lục Tổ, ngoài giờ phục  vụ, học hỏi quên mệt mỏi. Sau khi tu hành đắc đạo, nói câu nào ắt thành lời sấm”.

Đời sau, nói đến Thiền Sư, người  ta thường nhớ tới bài thơ  tán dương của Vua Lý Nhân Tôn, người lãnh đạo quốc gia, đại diện cho Đời,  đối với Thiền Sư Vạn Hạnh, người  đại diện cho Đạo:

Vạn Hạnh dung tam tế,

Chân phù cổ sấm thi,

Hương quan danh Cổ Pháp,

Trụ Tích trần vương kỳ

 (Thiền sư Vạn Hạnh hợp nhất ba cõi quá khứ, hiện tại, tương  lai;

Đúng như lời thơ tiên tri thời cổ xưa;

Quê hương danh tiếng của thiền sư là làng Cổ Pháp;

Thiền sư đã đem gậy nhà Phật để bảo vệ lãnh thổ Quốc Gia).

Trước khi có cuộc cách mạng năm 1009, Thiền Sư Vạn Hạnh đã đóng một vai trò quan trọng trong triều đình như là cố vấn của nhà vua. Khi quân Tống sang xâm lăng nước ta năm 980, Vua Lê Đại Hành hỏi Thiền Sư nếu đánh thì thắng hay bại, thiền sư trả lời là nội trong ba, bảy ngày thì giặc phải thua chạy. Rồi năm 982, khi quân Chiêm Thành bắt hai sứ giả của ta, Thiền Sư đã khuyên Vua cấp tốc xuất quân Nam chinh thì sẽ đại thắng. Quả nhiên, đối với hai vấn đề trọng đại sinh tử nầy là đương đầu với đế quốc phương Bắc và đánh dẹp phương Nam vào thời ấy đều đúng như lời Thiền Sư  tiên đoán.

Hai việc chính sự kể trên mà Thiền Sư Vạn Hạnh đã tham dự đều xảy ra dưới thời Vua Lê Đại Hành, là một vị minh quân. Đến thời  Lê Long Đỉnh, sử sách không nói  gì đến vai trò của Thiền Sư, có  lẽ Thiền Sư đã đứng ra cố vấn cho minh quân Lê Đại Hành, nhưng  đến thời hôn quân bạo chúa Lê  Long Đỉnh, lên ngôi làm những việc  bạo ác và dã man, xúc phạm nặng  nề đến Phật Giáo như dùng dao róc  mía trên đầu các sư, nên Thiền  Sư đã rút về ẩn trong bóng tối  để âm thầm chuẩn bị một cuộc  đại hành hoạt đưa dân tộc đến  kỷ nguyên ánh sáng. Chính Thiền Sư Vạn Hạnh là linh hồn của cuộc cách mạng bất bạo động vào năm 1009, Thiền Sư đã âm thầm, kiên trì  chuẩn bị và vận động cuộc cách  mạng nầy từ lâu.

Từ thuở  Lý Công Uẩn còn là một chú bé  tóc để chỏm đi làm chú tiểu  ở Chùa Cổ Pháp, gặp chú tiểu  nầy, Thiền Sư bằng tuệ giác đã  biết sau nầy chú bé sẽ trở thành  một minh quân, một bậc vĩ nhân của  dân tộc. Sử chép rằng Lý Công  Uẩn là con nuôi của Thiền Sư Lý  Khánh Vân, trụ trì Chùa Cổ Pháp  và là đệ tử của Thiền Sư  Vạn Hạnh từ thuở còn thơ. Bằng  sử liệu đơn sơ nầy, ta có thể  quả quyết rằng Lý Công Uẩn từ  thuở bé đã lọt vào mắt xanh  của Thiền Sư Vạn Hạnh và đã  được Thiền Sư giáo dục, un đúc,  hướng dẫn để trở thành một  con người lịch sử, làm tròn sứ  mệnh mà dân tộc và đạo pháp  đã giao phó. Khi làm như thế,

Thiền  Sư Vạn Hạnh không phải làm vì Phật  Giáo, vì thời đó, qua ba chế độ  độc lập Ngô, Đinh, Lê thì Phật  Giáo đã là quốc giáo ở Việt  Nam, rõ ràng Thiền Sư đã làm là  vì dân tộc, vì muốn chuyển hóa xã  hội bạo trị thành một xã hội đức  trị, biến một Quốc Gia Việt Nam mong manh,  suy vi thành một Quốc Gia Việt Nam hùng cường,  hưng thịnh. Thiền Sư đã ra tay hành  động, vừa là để tránh cho dân  tộc khỏi rơi vào vực thẳm, khỏi  trầm luân trong đầm lầy và vừa  để xây dựng trên đống tro tàn,  gạch vụn đổ nát của thời Bắc  Thuộc và thời chiến tranh, loạn lạc,  độc tài, bạo trị, một lâu đài  Việt Nam nguy nga, tráng lệ, một sự nghiệp  Việt Nam trường tồn bất tử ngàn  năm. Tuy đã âm thầm chuẩn bị và  vận động cuộc cách mạng 1009 từ  lâu và chuẩn bị trên mọi mặt, từ  sự giáo dục bản thân Lý Công  Uẩn, biến cậu bé khôi ngô tuấn  tú, thông minh khác thường nầy thành  một người tài đức vẹn toàn,  đồng thời thấm nhuần chánh pháp  để có thể trở thành một Quân  Vương Bồ Tát, để trị quốc an dân  theo chánh pháp, đến sự khai thị nhân  tâm, chuẩn bị dư luận quần chúng,  tuyên truyền vận động chính trị bằng  sấm truyền về vai trò lịch sử tất  yếu của Lý Công Uẩn, qua việc thăm dò, móc nối và tổ chức nhân sự để thực hiện cuộc đảo  chánh và sau đó là để tiến hành cuộc cách mạng.

Trong thời kỳ tiền cách mạng, chính Thiền Sư đã làm tất cả thể theo một kế hoạch dài hạn, với một kỷ thuật siêu việt, nhưng đến khi cách mạng xảy ra thì Thiền Sư không làm gì cả. Người ta không thấy Thiền Sư cầm quyền lãnh đạo. Thiền Sư chỉ ngồi yên, mỉm cười bên chén trà hay lặng lẽ cuốc đất hay đã biến mất vào hư không. Sử ghi lại rằng ngày cuộc cách mạnh xảy ra thành công tốt đẹp  và Lý Công Uẩn được suy tôn  lên làm Hoàng Đế thì Thiền Sư  Vạn Hạnh đang ngồi uống trà ở  Chùa Lục Tổ. Thiền Sư đã biết trước việc nầy và nói cho mọi  người trong chùa nghe. Họ vội vàng chạy về kinh đô để nghe tin, thì quả đúng như lời Thiền Sư nói.

Sử  sách và thế gian chỉ ghi rằng Lý Công  Uẩn lên làm vua, Đào Cam Mộc dẹp  yên các phe phái trong triều đình và  quần chúng ủng hộ cuộc cách mạng.  Còn Thiền Sư Vạn Hạnh, người như hạc vàng, đã bay vào vô tận, không để lại dấu vết, hình tướng, chỉ để lại hương thơm muôn thuở trong lòng người và lòng dân tộc.  Không những đối với cuộc cách  mạng năm 1009, và đối với tất  cả sự nghiệp vĩ đại khác mà  Thiền Sư Vạn Hạnh đã làm như  dời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng  Long, kiến thiết kinh thành Thăng Long..., Thiền  Sư đều làm với tinh thần vô kỷ, vô công, vô danh và vô hành. Giúp  dân dựng nước hay hoằng pháp  độ sanh, Thiền Sư đều làm một cách bình dị, tự nhiên như uống trà, cuốc đất, thở ra, thở vào, nằm, ngồi, đi, đứng.

Qua thời đại nhà Lý từ bi, nhân bản và nhân chủ đức trị, qua thành Thăng Long, qua huyền thoại Rồng Tiên và huyền thoại Hồng Bàng, đâu đâu ta cũng thấy bóng dáng siêu thoát, kỳ vĩ của Thiền Sư vạn Hạnh. Chính Thiền Sư Vạn Hạnh đã hoàn thành sự  nghiệp Việt Nam một cách quy mô nhất, toàn diện nhất, ở mức độ  cao đẹp nhất, bao trùm nhất. Sự nghiệp của Thiền Sư Vạn Hạnh không phải là sự nghiệp của Phật Giáo Việt Nam mà thôi, mà còn là và chính là sự nghiệp Việt Nam. Thiền Sư Vạn Hạnh qua những công nghiệp phi thường nầy, đã không làm cho riêng mình, đã làm rất ít cho Phật Giáo và đã làm tất cả cho dân tộc VIỆT NAM.

Điều kỳ diệu là sau khi hoàn thành sự nghiệp lớn lao vô song nầy và giữa thời đại thịnh của dân tộc VIỆT và Đạo Phật VIỆT, Thiền Sư VẠN HẠNH đã để lại cho đời bốn câu thơ siêu thoát và bay mất hút trong cõi vô cùng của lịch sử:

THÂN NHƯ SẤM CHỚP CÓ RỒI KHÔNG

CÂY CỐI XUÂN TƯƠI, THU HÉO HON

NHÌN CUỘC THỊNH SUY ĐỪNG SỢ HÃI

THỊNH SUY: NGỌN CỎ GIỌT SƯƠNG HỒNG

 



 

 


Đức Phật sơ sanh tay phải hay tay trái chỉ lên là đúng?

IMAGE
Việc chúng ta thấy rằng hiện có hai mẫu Thánh tượng Đức Phật sơ sanh ở hai tư thế tay khác nhau có thể lý giải như...

BỒ TÁT NGUYỆN - H.H The Dalai Lama XIV

IMAGE
Nếu lấy sự thành tựu giải thoát luân hồi làm thỏa mãn thì vẫn chưa thể gọi là đủ

Trùng trùng duyên khởi (Nguyễn Thế Đăng)

IMAGE
Như toàn bộ Phật giáo, Kinh Hoa Nghiêm cũng đặt nền trên duyên khởi: “Tất cả các pháp nhân duyên sanh Thể tánh...

Bốn Sự Thật Cao Quý (The Four Noble Truths - Barbara O'Brien)

IMAGE
Sau khi Đức Phật giác ngộ, bài giảng đầu tiên của ngài tập trung vào Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế), đó chính...

CHÁNH NGỮ TRONG PHẬT GIÁO

IMAGE
Vượt ra ngoài phạm vi pháp lý có lẽ tôn giáo nào cũng dạy con người phải nói lời chân thật, tránh dối trá. Những...

DUY THỨC LUẬN (Thích Thiện Siêu)

IMAGE
  Muôn sự muôn vật từ đâu đến và sẽ đi về đâu? Muôn sự muôn vật là gì mà lại từ đâu đến rồi sẽ đi về...

Đại cương Kinh Pháp Hoa (Thích THiện Siêu)

IMAGE
Trong kho tàng kinh điển Đại thừa, kinh Diệu Pháp Liên Hoa là bộ kinh được truyền bá rất sớm và rất rộng rãi, đã...

Gút Ghế đơn (Bowline)

IMAGE
Gút Ghế đơn (Bowline)

gút dây - Alpine Butterfly

IMAGE
  nút Bướm (Alpine Butterfly)

5 gút dây thông dụng

IMAGE
5 gút dây thông dụng

Nút ghế kép (Bowline on a bight)

IMAGE
Làm vòng ghế an toàn trong cứu hộ, tiện lợi và dễ chịu hơn nút ghế đơn.

TẬP TIN SỐ 19- CÂY XẤU HỔ CHỮA TRỊ ĐAU NHỨC XƯƠNG KHỚP

IMAGE
Trinh nữ hay còn gọi xấu hổ, mắc cỡ, cây thẹn, hàm tu thảo (danh pháp hai phần: Mimosa pudica L.) là một loại...

GĐPT Khánh Minh trao Quỹ Hỗ trợ học đường lần II.

IMAGE
Ngày 05/11/2017 vừa qua, GĐPT Khánh Minh H. Tánh Linh đã  tổ chức trao Quỹ Hỗ trợ học đường đoàn sinh lần II. 

​​GĐPT Hải Quang tổ chức mừng Chu Niên lần thứ 11.

IMAGE
Ngày 05 tháng 11 năm 2017, GĐPT Hải Quang (TP.Phan Thiết) đã tổ chức Lễ Chu Niên lần thứ 11.

Ngành Nữ GĐPT Huyện Phú Quý tổ chức Trại Yến Phi 1

IMAGE
Trong hai ngày 28,29/10/2017 tại chùa Thạnh Lâm , ngành Nữ GĐPT Huyện Phú Quý đã tổ chức trại Hạnh mang tên YẾN PHI 1....

GĐPT Thiện Duyên tổ chức thi vượt bậc cho đoàn sinh

IMAGE
Ngày 29-10- 2017,  Ban Huynh trưởng GĐPT Thiện Duyên H. Bắc Bình đã tổ chức thi vượt bậc cho 25 đoàn sinh

GĐPT Thiện Duyên đã tổ chức thi vượt bậc cho đoàn sinh

IMAGE
Ngày 29-10- 2017,  Ban Huynh trưởng GĐPT Thiện Duyên H. Bắc Bình đã tổ chức thi vượt bậc cho 25 đoàn sinh

GĐPT Thiện An tổ chức kỷ niệm 1 năm thành lập

IMAGE
Ngày 07/10/2017,  tại chùa An Lạc- huyện Hàm Thuận Bắc, GĐPT Thiện An - tổ chức kỷ niệm 1 năm ngày thành lập...

Các đơn vị tổ chức vui Trung thu 2017 cho Đoàn sinh

IMAGE
GĐPT Thiện An, Hải Quang, Thạnh Lâm, Long Quang...

Lời phật dạy

- Chớ vội tin điều gì, khi điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

"Cạo bỏ râu tóc để trở thành vị Sa môn, lãnh thọ giáo pháp của Phật thì phải xả bỏ của cải thế gian, mong cầu vừa đủ, giữa ngày ăn một bữa, dưới gốc cây ở một đêm, cẩn thận không trở lại lần thứ hai. Ðiều làm cho người ta ngu muội là ái dục"

- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong sách vở hay kinh điển.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó lý luận siêu hình.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

Nghèo nàn bố thí là khó. Giàu sang học đạo là khó.  Bỏ thân mạng quyết chết là khó. Thấy được kinh Phật là khó.Sanh vào thời có Phật là khó. Nhẫn sắc, nhẫn dục là khó. Thấy tốt không cầu là khó.  Bị nhục không tức là khó.  Có thế lực không dựa là khó Gặp việc vô tâm là khó.