Tập tin Hương Lam số 26 - Trang Văn nghệ

Created on Monday, 23 April 2018 10:50

Thơ: .........................................................................................

KÍNH LẠY NGƯỜI           (T Nguyên Sắc)

 

Đức Thế Tôn ân cần chỉ bảo
Con lặn chìm hải đảo sông mê
Quanh năm tìm kiếm bên lề
Tuổi già bóng xế chưa kề Như Lai

Đức Như Lai lòng từ quảng đại
Thương con khờ thơ dại dong chơi
Suốt ngày bắt bóng nơi nơi
Khác nào Cùng Tử quên lời Đạo Sư

Đức Đạo Sư từ bi trí tuệ
Con nặng nghiệp trì trệ vô minh
Đắm trong danh vọng mê tình
Sợ không dám ngó dám nhìn Thế Tôn

Đức Thế Tôn ôn tồn nhã nhặn
Pháp cam lồ ban tặng cho con
Đạo đời hai ngã lo tròn
Xứng danh họ Thích hằng còn mai sau.


ĐƯỜNG TU

  (Thơ: Tâm Quang)


Tất cả nghiêp thiện ác

Đều do tâm khởi sanh

Cốt lõi việc hành trì

Điều tâm là việc chính

Luôn giữ tâm thanh tịnh

Không khởi niệm vọng chơn

Mắc hai bờ kiến chấp

Bỏ vọng để tìm chơn

Rốt cùng chơn là vọng

Như bỏ đêm tìm ngày

Đâu biết ngày với đêm

Đều do tâm phân biệt

Kiến chấp có ngày đêm

Việc tử sanh cũng thế

Thường nghĩ đến vô thường

Không có gì bền chắc

Dứt bặt mọi khổ sầu

Do không cầu danh lợi

Mà tẩy sạch lòng tham

Do thấy pháp không thường

Mà sân hận tiêu tan

Do thường tu thiền định

Mà si mê tan biến

Con đường tu như thế

Rốt ráo được thành Phật

Giải thoát ngay hiện tiền


MỘT CHUYẾN ĐI VỀ ______  HỒI KÝ ĐỖ NHỮ (Tiếp theo số 25)

 

THÀNH BA LA NẠI

ĐỊA DANH GẮN LIỀN THÁNH TÍCH

VƯỜN LỘC UYỂN

Thành Ba La Nại ngày xưa vào thời Đức Phật là một Đô thị rộng lớn, sầm uất, dân cư đông đúc, giàu có. Là một trong những trung tâm Phật giáo lớn và nổi tiếng, thuộc Bang UTTAR Pradesh của nước Cộng hòa Ấn Độ cổ đại. Nơi có vườn Lộc Uyển linh thiêng.

Sau khi chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Phật đã đến Thành Ba La Nại, và Ngài thẳng đến vườn Lộc Uyển, thuyết bài Pháp đầu tiên cho năm người bạn đồng tu khổ hạnh, đó là năm anh em Kiều Trần Như. Đức Phật đã vận chuyển bánh xe Pháp nhiệm mầu, giáo pháp này được gọi là con đường Trung đạo, xa lánh hai cực đoan khổ hạnh ép xác và hưởng thụ khoái lạc.

Thành Ba La Nại ngày nay đã bị hoang phế, những vòng thành, đền đài đều đổ nát. Chỉ còn lại một công trình nổi bật nhất, đó là ngôi Tháp Dha Mekh hình tròn, do vua A Dục xây năm 234 trước Tây lịch, tháp cao 28,6 m, đường kính rộng 32 m, chân tháp xây bằng đá, thân tháp xây gạch, có lối kiến trúc cổ xưa, chạm khắc nhiều hình ảnh, hoa văn có liên quan đến cuộc đời Đức Phật, đánh dấu nơi truyền bá thông điệp của Đức Phật về từ bi, trí tuệ và bình đẳng, Tháp hiện nay vẫn còn nguyên vẹn, với lối kiến trúc sinh động, lộng lẫy, uy nghiêm, cổ kính.

 Ngoài ra, có một trụ đá của vua A Dục xây dựng vào thời của ngôi Bảo Tháp, trụ đá cao 28 m, chân trụ 1,9m, trên đỉnh trụ đá có tượng sư tử bốn mặt. Hình ảnh sư tử bốn mặt ở trên đỉnh trụ đá, được chính phủ sử dụng làm Quốc Huy của nước Cộng Hòa Ấn Độ hiện tại.

Ngày xưa, trong thời Đại Đế A Dục, sư tử bốn mặt tượng trưng cho Vương Triều bền vững của Vua A Dục, và sự tuyên bố giáo pháp của Đức Phật.

Tại Thành Ba La Nại hiện nay, có một viện Bảo Tàng Khảo cổ học, do tổ chức UNESCO của Liên Hiệp Quốc điều hành, quản lý, nơi trưng bày, lưu giữ Xá Lợi Đức Phật và Xá Lợi chư vị Tôn Giả Đại đệ tử Phật, những cổ vật từ các Vương Triều Vua Chúa, những kiệt tác nghệ thuật, những kinh sách, tuyển tập phong phú, các cảo bản và tác phẩm, ấn phẩm, nghiên cứu của những vị giáo sư, tiến sĩ Phật học hàng đầu trên thế giới. Thành Ba La Nại có lịch sử gắn liền với Thánh tích linh thiêng vườn Lộc Uyển, điểm Phật tích quan trọng nhất, là một trong “ Tứ Động Tâm” mà phần lớn kinh sách đều có ghi. Nơi thiêng liêng, nhiệm mầu của Phật Giáo, là điểm đã thu hút nhiều tu sĩ các hệ phái về đây tu tập, thiền định và nhiều Phật tử khắp nơi trên thế giới trở về hành hương chiêm bái.

(Còn tiếp)


Tản mạn

CHUYỆN CHIẾC LÁ  (Thục Độ)

 

Giữa rừng, có cây cổ thụ bên dòng suối. Mỗi mùa sang, lá cứ rụng nhiều, thay vào đó những cành non tơ vươn dài che mát cả một vùng. Trên cây, một chiếc lá đã già cỗi vàng úa chưa chịu rời cành vì vương vấn mãi tiếng hót của bầy chim, thương nhớ nhịp đập vào thân cây của chim gỏ kiến, thích ngắm hoài bầu trời xanh mây trắng, làm sao quên được vị ngọt của giọt mưa đầu mùa bên cô bạn nằm kề xanh mơn mởn xuân thì…

Một buổi chiều, khi ánh tà dương chập choạng, Lá thở dài lảo đảo, mệt mỏi buông cành. Lá không như những người hàng xóm đặt mình dưới gốc cây hay vút xa ở một nơi nào đó theo ý của gió đưa, nó lại đặt mình nhẹ nhàng lên mặt nước. Lá khoan khoái tắm rửa, bơi lặn trong sóng dập duềnh của từng thoảng gió qua.

Lá ngẫm:”Vì ở mãi trên cao kia nên không hề biết rừng này có bao nhiêu điều mới lạ.”.. rồi nó lại ngẫm :”Nước suối này đâu nuôi mình xanh mãi, có chỗ nào cho mình bám víu… thật tội cho thân này”.

Qua gương nước, Lá thấy mình tội nghiệp và càng tiếc rẻ những ngày cường tráng cứng cáp vẫy vùng bám cành dù bao mưa gió bão bùng nắng chang thiêu đốt. Tưởng lại ngày nào, Lá ưỡn ngực thách đố số phận khi bên cạnh những người quen co queo trả mình về đất.

Bỗng dưng, Lá cựa mình, động đậy trong nước, thấy mát lạnh, cái vị ngọt quen quen thấm dần vào da thịt rồi lan dần vào đến xương tủy. Cái vị ấy chưa chịu buông tha Lá vì Lá cũng chẳng muốn buông tha. Nó thích thú lấy những đam mê mà đời may mắn trao cho, này mắt này môi, này lời dịu dàng nịnh nọt tâng bốc nuông chiều. Nó thấy nhớ nhiều hơn về những ngày vững vàng chảnh chuệ ghế cao chỏng vọng, xem thường những chiếc lá khác uổn ẹo tật nguyền hay khép mình vào bóng râm những khi mùa gió chướng về.

Và Lá nghiêng mình. Bóng Lá hiện ra dưới đáy suối. Lá sửng sờ “thân tôi đâu phải như vầy, ảnh ảo thôi mà, đừng tin vào mắt… tôi vẫn trẻ trung hào nhoáng như ngày nào…”. Chút gió qua, Lá lảo đảo, bóng Lá cũng chao theo… “ Thật nhưng không thật”. Lá khóc ròng trong nhận biết. Nước mắt làm Lá cằn thêm. Chiếc áo vàng sậm dần, mỏng manh đang bề mục rửa vỡ toang chẳng chút thấy đau. Lá lịm dần, lịm dần…

… Trăng lên.. Gió rì rào ru rừng vào giấc ngủ. Trăng lung linh mộng mỵ che lấp mọi vật khoe khoang dưới nắng ban ngày. Một tia sáng lọt vào nơi Lá nằm làm nó giật mình, ngộ ra “À, ta vẫn còn sống, mọi việc xảy ra y như chiêm bao”. Lá nhìn xuống đáy dòng suối chẳng thấy bóng mình đâu. Gió đã đưa Lá trôi ngược về đầu nguồn và Lá mắc lại bên gờ viên đá cuội với bộ xương không manh áo.

(12/2017)




Áo Lam rong phố (Bảo Lễ)

IMAGE
Em ước gì mình làm chim bay, bay khắp quê nhà...

Bộ tranh cuộc đời Đức Thích Ca Mâu Ni

IMAGE
Bộ tranh cuộc đời Đức Phật

NHẠC GĐPT - PART 2

IMAGE
Đường Lam - Anh em ta về - Kết dây thân tình - Đoàn Lam non - Mừng Thầy đến - Nào về đây - Lửa Trại đêm nay - Hát to...

Bài hát sinh hoạt - P1

IMAGE
Càng đông càng vui- Bốn phương họp mặt - Tiếng chim ca -Nhảy lửa-  Một Mẹ trăm con - 15 phút đồng hồ - Đôi tay trên...

bài hát TIẾNG CHIM CA (Vũ Đức Sao Biển )

IMAGE
Nhạc phẩm TIẾNG CHIM CA - Tác giả: Vũ Đức Sao Biển 

Lời phật dạy

- Chớ vội tin điều gì, khi điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

"Cạo bỏ râu tóc để trở thành vị Sa môn, lãnh thọ giáo pháp của Phật thì phải xả bỏ của cải thế gian, mong cầu vừa đủ, giữa ngày ăn một bữa, dưới gốc cây ở một đêm, cẩn thận không trở lại lần thứ hai. Ðiều làm cho người ta ngu muội là ái dục"

- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong sách vở hay kinh điển.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó lý luận siêu hình.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

Nghèo nàn bố thí là khó. Giàu sang học đạo là khó.  Bỏ thân mạng quyết chết là khó. Thấy được kinh Phật là khó.Sanh vào thời có Phật là khó. Nhẫn sắc, nhẫn dục là khó. Thấy tốt không cầu là khó.  Bị nhục không tức là khó.  Có thế lực không dựa là khó Gặp việc vô tâm là khó.