Tập tin Hương Lam số 26 - Tìm hiểu ngôn ngữ Phật học

Created on Monday, 23 April 2018 10:21

 

TÌM HIỂU TỪ NGỮ PHẬT HỌC

(*)Trong kinh sách, những bước thăng trầm của cuộc đời được gọi là "Bát Phong". Bát phong gồm có bốn điều phước lành và bốn điều bất trắc như sau: "thịnh và suy, hủy và dự, xưng và cơ, khổ và lạc". Tức là bát phong có bốn cặp: Một là hưng thịnh, lợi lộc và suy sụp, điêu tàn. Hai là hủy báng, gièm pha và danh dự, tiếng thơm. Ba là xưng dương, tán tụng và cơ bài, chỉ trích. Bốn là phiền não, khổ đau và an lạc, hạnh phúc. Ðó là tám ngọn gió thường tình của thế gian, lúc nào cũng không ngừng thổi, hết cơn gió này rồi đến cơn gió khác, có lúc gió thổi hiu hiu, nhẹ nhàng, mát mẽ, có khi gió thổi mãnh liệt, khủng khiếp, tàn khốc, như trong các cơn giông bão.( thuvienhoasen.org)

      NGŨ TRƯỢC

Trược hay trọc là nhơ bẩn. Năm cái nhơ bẩn:

1.  Kiếp trược: S. Kalpa kasayah.

2.   Kiến trược: drsti kasayah.

3.   Phiền não trược: Klesa kasayah.

4.   Chúng sinh trược: sattva kasayah.

5.   Mạng trược: Asyuskasayah

Kiếp trược: sự ô uế của kiếp sống chúng sinh, làm nhiều điều ô uế, và chịu đựng nhiều điều ô uế.

Kiến trược: sự ô uế của nhận thức sai lầm, do chấp cái thân năm uẩn này là ta cho nên làm nhiều điều ô uế và chịu đựng nhiều điều ô uế.

Phiền não trược: sự ô uế của các phiền não, như tham, sân, si v.v… bắt nguồn từ cái chấp ngã sai lầm.

Chúng sinh trược: cả thân và tâm của chúng sinh đều không trong sạch, chứa nhóm phiền não mê lầm.

Mạng trược: thọ mạng nhơ bẩn, dơ thân tâm chúng sinh chứa nhóm phiền não, làm nhiều tội ác cho nên thọ mạng cứ giảm dần, cho đến khi chỉ còn 10 tuổi. Khi ấy, chúng sinh sẽ biết tu tỉnh, bỏ ác làm lành một cách phổ biến và thọ mạng của con người sẽ tăng trở lại.

TRIỀN PHƯỢC

Triền cái : Triền : những phiền não ; cái : che khuất . Vậy triền cái là những phiền não che mờ chân tâm . 

Triền phược : triền : phiền não ; phược : ràng buộc , cột chặt . Vậy triền phược là những phiền não cột chặt con người trong vòng luân hồi không thoát ra được . 

Yểm ly : nhàm chán, ví dụ yểm ly thế gian nghĩa là nhàn chán cuộc đời . 

Xã ly : bỏ đi .

NĂM TÂM TRIỀN PHƯỢC - P. Cetaso vinibandha

Tâm tham ái đối với dục vọng, tâm tham ái đối với tự thân (sakkàya), tâm tham ái đối với sắc pháp, ăn cho đến no bụng, thiên về khoái lạc sàng tọa, thích ngủ, nghỉ; sống Phạm hạnh nhưng mong cầu sinh về thiên giới (Trung Bộ Kinh I, 101A).

Đức Thế Tôn nhắc nhở các Tỷ-kheo rằng, để có được sự tiến bộ lợi lạc trong đời sống tu học đạo lý giác ngộ, người xuất gia cần phải biết ngăn tránh năm tâm hoang vu và đoạn tận năm tâm triền phược. Nguyên văn lời nhắc nhở của Ngài: “Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào chưa diệt trừ năm tâm hoang vu, chưa đoạn tận năm tâm triền phược, vị ấy có thể lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong pháp luật này, sự kiện này không xảy ra”. (1)

Năm tâm hoang vu tức là rơi vào tình trạng nghi ngờ đối với Phật, đối với Pháp của Phật, đối với chư Tăng đệ tử của Phật, đối với các học giới do Phật thiết lập và biểu lộ sự bất mãn, chống đối, không hoan hỷ đối với các vị đồng Phạm hạnh. Năm tâm triền phược gồm:

1. Bị trói buộc và chi phối bởi các lạc thú thế gian như sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, cảm xúc êm dịu hay bị lôi cuốn và trói buộc bởi tiền tài vật chất, danh vọng quyền lực, sắc đẹp khác phái, cao lương mỹ vị, chăn gối êm ái.

2. Luyến ái tự thân, nghĩa là tỏ ra chăm chút quá nhiều cho sắc thân vật lý như bồi bổ, trang điểm, trang sức, làm đẹp cho cơ thể…

3. Đam mê sắc dục, tức là chạy theo sắc dục hay rơi vào con đường tình ái;

4. Ham thích ăn nhiều, ngủ nhiều;

5. Tu hành với tâm lý mong cầu sanh vào các hàng chư Thiên.

Đức Phật khuyến cáo các Tỷ-kheo rằng, người xuất gia mà để cho mình rơi vào năm tình trạng mê đắm trên thì tâm tư trở nên bị trói buộc, mê mờ, mất phương hướng, không còn thích thú đối với việc tu học, không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn. Do tâm không hướng về nỗ lực, chuyên cần, kiên trì, tinh tấn học hỏi và hành trì pháp giác ngộ của Phật, người xuất gia không đạt được sự lớn mạnh, trưởng thành và hưng thịnh trong đời sống tu học của mình. Nói khác đi, người xuất gia không kỳ vọng có được sự tiến bộ lợi ích gì trong đời sống tu học giáo pháp giác ngộ của Phật, một khi tâm thức bị trói buộc và chi phối bởi năm thứ ham thích ái luyến trên. Trong văn cảnh bài kinh, thuật ngữ “vinibandha” (triền phược) có hai nghĩa thống nhất với nhau, thứ nhất là sự ham muốn, khao khát, tham đắm, ái luyến, chấp thủ; thứ hai là sự dính mắc, ràng buộc, trói buộc gọi chung là triền phược. Do đó, tâm triền phược (cetaso vinibandho) có nghĩa là tâm thức rơi vào tình trạng ham thích, khao khát, tham đắm, ái luyến, chấp thủ các dục nên bị dính mắc, bị ràng buộc, bị trói buộc bởi các dục, chìm đắm trong các dục, quay cuồng trong các dục, không có cơ hội để thoát ra, để được tu tập và phát triển, để được tự do và giải thoát. Cái tâm ấy chỉ quanh quẩn trong dục giới, đổ đầy tham- sân-si, bị dẫn dắt bởi thói quen ích kỷ, vị ngã, dễ rơi vào các hành vi sai trái, bất thiện. Chính vì thế mà Đức Thế Tôn gọi vị Tỷ-kheo nào không đoạn trừ năm tâm triền phược thì không đạt được sự lớn mạnh, trưởng thành, hưng thịnh trong Pháp và Luật của Ngài, nghĩa là không có cơ hội để phát triển và hoàn thiện về đạo đức, tâm linh và trí tuệ đưa đến giác ngộ.

Tóm lại, dục vọng là mối dây trói buộc đầy khổ đau cho con người, đồng thời là thách thức lớn đối với mọi người con Phật trong sự nghiệp tu học đạo lý giải thoát giác ngộ của bậc Đạo sư. Hết thảy những lời dạy của Đức Thế Tôn đều là những bước đi chính xác và sáng suốt giúp cho con người từng bước đi ra khỏi tham dục, vượt khỏi các trói buộc, giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau. Người xuất gia được xem là đang nỗ lực bước đi trên con đường ly dục, giải thoát của Phật, do nhận thức rõ dục vọng là ràng buộc khổ đau. 

http://vuonhoaphatgiao.com/tu-dien-phat-hoc

 


Áo Lam rong phố (Bảo Lễ)

IMAGE
Em ước gì mình làm chim bay, bay khắp quê nhà...

Bộ tranh cuộc đời Đức Thích Ca Mâu Ni

IMAGE
Bộ tranh cuộc đời Đức Phật

NHẠC GĐPT - PART 2

IMAGE
Đường Lam - Anh em ta về - Kết dây thân tình - Đoàn Lam non - Mừng Thầy đến - Nào về đây - Lửa Trại đêm nay - Hát to...

Bài hát sinh hoạt - P1

IMAGE
Càng đông càng vui- Bốn phương họp mặt - Tiếng chim ca -Nhảy lửa-  Một Mẹ trăm con - 15 phút đồng hồ - Đôi tay trên...

bài hát TIẾNG CHIM CA (Vũ Đức Sao Biển )

IMAGE
Nhạc phẩm TIẾNG CHIM CA - Tác giả: Vũ Đức Sao Biển 

Lời phật dạy

- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó là truyền thuyết.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó thuộc về truyền thống.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền.

- Chớ vội tin điều gì, khi điều đó được căn cứ trên những dữ kiện hời hợt.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được sức mạnh và quyền uy ủng hộ.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình tuyên thuyết.

- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong sách vở hay kinh điển.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó lý luận siêu hình.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều đó phù hợp với lập trường của mình.
- Chớ vội tin điều gì, chỉ vì điều ấy phù hợp với định kiến của mình.

"Cạo bỏ râu tóc để trở thành vị Sa môn, lãnh thọ giáo pháp của Phật thì phải xả bỏ của cải thế gian, mong cầu vừa đủ, giữa ngày ăn một bữa, dưới gốc cây ở một đêm, cẩn thận không trở lại lần thứ hai. Ðiều làm cho người ta ngu muội là ái dục"
Nghèo nàn bố thí là khó. Giàu sang học đạo là khó.  Bỏ thân mạng quyết chết là khó. Thấy được kinh Phật là khó.Sanh vào thời có Phật là khó. Nhẫn sắc, nhẫn dục là khó. Thấy tốt không cầu là khó.  Bị nhục không tức là khó.  Có thế lực không dựa là khó Gặp việc vô tâm là khó.